八字
传统术数 四柱与大运属推算;论断是子平典籍的读法。
依子平诸书读您出生年、月、日、时四柱:为人、工作、钱财、感情、家庭,以及您正走的十年大运。每一部分都有书中所论、讲解和可以做的事。
阅读约需 25 分钟。
首页 / 个人化解读
三种解读,各成一份:八字、紫微斗数、生命灵数。我们用程序排盘,找出典籍对这张命盘的论述,再结合你讲的处境来解读。
各派读法不同的地方,解读会明说,不会悄悄只取一家。
第二部分只在你讲述处境时才有。第十部分是附录:命盘、引用的典籍、各派读法不同之处。
传统术数 四柱与大运属推算;论断是子平典籍的读法。
依子平诸书读您出生年、月、日、时四柱:为人、工作、钱财、感情、家庭,以及您正走的十年大运。每一部分都有书中所论、讲解和可以做的事。
阅读约需 25 分钟。
传统术数 诸星在十二宫的位置按安星法排出;论断是紫微斗数典籍的读法。
依紫微斗数读十二宫命盘:各宫守星、三方四正,以及您正走的十年大限。需要知道出生时辰。每一部分都有书中所论、讲解和可以做的事。
阅读约需 25 分钟。
现代体系 各个数字由出生日期与姓名相加得出;每个数字的含义是二十世纪初作者们的约定。
依二十世纪初的数字命理著作读您生日与姓名里的数字:生命灵数、生日九宫格、四个高峰期和个人流年。每一部分都有书中所论、讲解和可以做的事。
阅读约需 25 分钟。
每一种都有三段文字,分别说明哪部分可以计算、哪部分是有典籍可据的传统、哪部分尚无人证明,随后是参考书目与文章。
Lá số Bát Tự trong bản luận này do lõi tính của Nhật Nguyệt lập, không do mô hình ngôn ngữ. Bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ là can chi của thời điểm sinh: trụ tháng đổi theo tiết khí, tức theo hoàng kinh Mặt Trời, còn ngày âm đi theo điểm sóc. Phép tính ấy được đối chiếu với bảng điểm sóc của NASA, bảng tiết khí của Đài thiên văn Paris (IMCCE) và số liệu phân chí của Đài thiên văn Hải quân Mỹ, theo múi giờ UTC+7 cho mọi năm. Ai lập lại theo cùng quy ước cũng ra đúng lá số này. Riêng giờ Tý, Nhật Nguyệt đổi ngày từ 23 giờ, không tách Tý sớm, Tý muộn; có phái làm khác, nên bản luận ghi chú khi gặp giờ ấy.
Lời luận đi từ sách. Mộ chí Hàn Dũ viết cho Lý Hư Trung đời Đường là ghi chép đương thời về phép lấy can chi năm, tháng, ngày sinh để luận đời người. Tứ khố toàn thư tổng mục đời Thanh chép mười bốn bộ sách mệnh, sách tướng, trong đó có Lý Hư Trung Mệnh Thư, Lạc Lộc Tử, Tam Mệnh Thông Hội, và nói thẳng rằng nhiều sách mang tên người xưa là mượn danh. Tử Bình Chân Thuyên, Trích Thiên Tủy, Cùng Thông Bảo Giám còn bản in cũ trong các thư viện quốc gia. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc có mục "Bát tự" và xếp nó vào phong tục. Chao Wei-pang, Richard J. Smith, Stéphanie Homola đã nghiên cứu truyền thống này như một đối tượng lịch sử và văn hoá.
Trong các nghiên cứu Nhật Nguyệt tìm được, chưa có nghiên cứu nào chứng minh lá số Bát Tự cho biết trước việc sẽ xảy ra. Phép thử trực tiếp rất ít: Jung và Yang (2015) so Tứ Trụ với thang đo tính cách ở 148 người lớn, không thấy tương quan đáng kể với tổng số âm dương, chỉ thấy tương quan yếu với ngũ hành. Các nghiên cứu về năm sinh (Wong và Yung 2005; Do và Phung 2010 ở Việt Nam; Mocan và Yu 2020) cho thấy thứ tạo ra khác biệt là niềm tin và sự chuẩn bị của cha mẹ, không phải bản thân năm sinh. Bản luận này vì thế là một cách đọc theo sách, có truyền thống lâu đời, để soi lại mình và sắp việc. Người đọc là người quyết.
Lá số trong bản luận này do lõi tính của Nhật Nguyệt lập. Ngày giờ sinh được đổi sang âm lịch theo điểm sóc và tiết khí, tính theo giờ Việt Nam, có đối chiếu với số liệu thiên văn của NASA và Đài thiên văn Paris. Từ đó cung Mệnh, cung Thân, cục và chỗ đứng của từng sao được an bằng quy tắc cố định theo năm, tháng, ngày, giờ sinh, như phần An thân mệnh lệ của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Ai lập lại theo cùng quy tắc cũng ra đúng lá số ấy. Sao của Tử Vi là sao quy ước theo lịch: tên mượn của Tử Vi viên, Bắc Đẩu trong thiên văn cổ, còn chỗ đứng trên lá số không phải vị trí thiên thể trên trời lúc sinh.
Lời luận đi từ Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Truyền thống quy sách cho Trần Đoàn đời Tống; lời tựa đề tên La Hồng Tiên ghi năm 1550. Nghiên cứu hiện đại chưa coi việc quy ấy là đã chứng minh: luận văn của Liao Wei-Juin (2020) soát thư mục Tống, Nguyên, không thấy tên môn này trước đời Minh. Tên sách có trong Vạn Lịch Tục Đạo Tạng, nhưng bản ba quyển trong Đạo Tạng dùng một bộ sao khác với Toàn Thư. Triều Tiên vương triều thực lục năm 1644, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và bản Nôm An tử vi quốc ngữ ca cho thấy môn này đã lưu hành ở Triều Tiên và Việt Nam. Stéphanie Homola và Richard J. Smith khảo sát nó như một đối tượng lịch sử, văn hoá.
Chưa có nghiên cứu nào chứng minh lá số Tử Vi nói đúng tính cách hay việc sẽ tới. Phép thử trực tiếp duy nhất Nhật Nguyệt tìm được là luận văn của Teo Huay Ching (2018): ba thầy lâu năm đọc lá số của 243 sinh viên, lời đọc nhìn chung không tương quan với các thang đo tâm lý chuẩn. Với chiêm tinh phương Tây, tổng quan của Dean và Kelly (2003) gộp hơn bốn mươi nghiên cứu có đối chứng và không thấy kết quả vượt mức ngẫu nhiên. Bản luận này vì thế không phải lời tiên đoán và không thay ý kiến chuyên môn. Nó là một cách đọc theo sách xưa, có truyền thống vài trăm năm, để người đọc soi lại mình và sắp xếp công việc. Người đọc là người quyết.
Phần tính toán của bản luận này chỉ là phép cộng. Ngày, tháng, năm sinh được cộng lại rồi rút về một chữ số; mỗi chữ cái trong họ tên được đổi thành một số từ 1 tới 9 rồi cũng cộng lại. Ai cầm bút tính lại cũng ra đúng những con số ấy, không cần tin ai. Có một điều phải nói rõ: bảng đổi chữ thành số của hệ này dựng cho 26 chữ cái tiếng Anh, như bảng chín cột trong sách của bà L. Dow Balliett (bản quyền 1905). Tiếng Việt có dấu thanh và có những chữ như ă, â, đ, ê, ô, ơ, ư, nên cách Nhật Nguyệt đổi tên tiếng Việt sang số là quy ước của công cụ, không phải điều sách gốc quy định.
Hệ tính theo tên và ngày sinh hình thành ở Mỹ đầu thế kỷ 20: Balliett ở Atlantic City (How to Attain Success Through the Strength of Vibration, bản quyền 1905; The Philosophy of Numbers, 1908), Luo Clement (1908), Cheasley (1916), Campbell (1931), Jordan (1936); biểu đồ ngày sinh và các mũi tên có trong dòng sách Úc của Templeton, còn sách của Phillips (1980) là nền của cuốn sách Việt phổ biến nhất. Các sách ấy nói mình dạy điều "Pythagoras dạy", nhưng đó là vay tên. Điều thật sự cổ là quan niệm của người Pythagoras rằng số là nguyên lý của vạn vật, được Aristotle thuật lại, và phép đổi chữ thành số (gematria) của người Do Thái, Hy Lạp, tới Agrippa năm 1533. Các chỉ số trong bản luận này là của thế kỷ 20.
Thần số học không phải khoa học, và phép thử đã có không ủng hộ khả năng dự đoán của nó. Genovese (2017) tính số ngày sinh của 806 người đoạt giải Nobel: phân bố không khác ngẫu nhiên. Forer (1949) phát cho 39 sinh viên cùng một bản mô tả tính cách, và 34 người chấm nó 4 hoặc 5 trên 5 điểm: câu chung chung rất dễ được thấy là đúng với riêng mình. Vì vậy bản luận này bám vào con số của riêng từng người và không hứa điều gì sẽ xảy ra. Cách dùng đúng là coi nó như một bộ câu hỏi có truyền thống hơn một trăm năm để soi lại mình và sắp việc. Người đọc là người quyết.
解读是依典籍读命盘的一种方式,并不保证任何事会发生。解读不谈健康,也不能代替医疗、法律或财务建议。事情由你自己决定。
每一次可换任意一种解读一份,给自己或他人都可以。次数不会过期。
以上为标价。购买时以应用内显示的 Google Play 价格为准。
解读在安卓版 Nhật Nguyệt 应用内通过 Google Play 购买。购买后,用同一账户在应用或网站上填写资料、阅读都可以。
想进一步了解解读,请留下联系方式,我们会联系你。
解读暂未在 iPhone 和 iPad 上提供。已有次数的话,可在账户页面填写资料并阅读。