Vì sao gọi là lịch âm mà thực chất lại là lịch âm dương?
Trong đời sống người Việt, cụm từ lịch âm đã trở nên quá quen thuộc đến mức ít ai đặt câu hỏi về tính chính xác của nó. Tết Nguyên đán, ngày rằm, ngày mùng một, giỗ chạp, cưới hỏi, động thổ đều được tính theo lịch âm. Thế nhưng, theo các nhà nghiên cứu lịch, cách gọi tắt này lại che khuất một sự thật khoa học quan trọng: lịch mà người Việt đang dùng không phải là lịch âm thuần túy, mà là lịch âm dương.
Sự nhầm lẫn này không chỉ tồn tại trong đời sống dân gian. Nó còn xuất hiện trong cả sách giáo khoa, khiến nhiều học sinh hiểu sai về bản chất của loại lịch gắn liền với văn hóa phương Đông.
Lịch âm thuần túy là gì?
Chu kỳ Mặt Trăng và đơn vị tháng
Theo nguồn từ Báo VietNamNet, năm âm lịch được tính bằng chu kỳ tròn khuyết của Mặt Trăng, còn được gọi là Thái âm. Người xưa phát hiện Mặt Trăng tròn khuyết theo quy luật, bình quân mỗi lần tròn khuyết kéo dài 29,53 ngày. Họ lấy khoảng thời gian đó làm đơn vị đo thời gian và gọi là tháng. Tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày.
Do trong chu kỳ từ ngày lạnh đến ngày nóng và ngược lại, Mặt Trăng thay đổi tròn khuyết hơn 12 lần, người xưa lấy 12 tháng âm lịch thành một năm âm lịch. Năm đó có 354 hoặc 355 ngày. Đây mới là lịch âm thực sự.
Nguồn gốc của lịch âm
Theo trang Nghiên cứu lịch sử được dẫn lại trên VietNamNet, việc soạn thảo lịch dựa vào vận hành của Mặt Trăng không bắt đầu từ Trung Hoa như nhiều người lầm tưởng. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy nền văn minh Sumer, phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm, tại khu vực sau này là Baghdad, thủ đô Iraq, đã biết làm lịch dựa vào vận hành của Mặt Trăng. Đế quốc La Mã thời trước Julius Cesar cũng dùng loại âm lịch này.
Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, giáo sư Trần Ngọc Thêm cho biết lịch âm phát sinh từ vùng văn hóa Lưỡng Hà dựa trên chuyển động của Mặt Trăng với chu kỳ 29,53 ngày, mỗi năm có 354 ngày.
Vì sao lịch âm thuần túy không đủ dùng?
Chênh lệch với chu kỳ bốn mùa
Theo VietNamNet, theo âm lịch, một chu kỳ thời tiết thay đổi nóng lạnh là 364 ngày, trong khi một năm âm lịch chỉ có 354 đến 355 ngày. Mỗi năm còn dư 10 đến 11 ngày, ba năm liền dư hơn một tháng. Nếu chỉ dùng lịch âm thuần túy, các tháng sẽ trôi dần qua các mùa, gây khó khăn cho việc canh tác nông nghiệp và sinh hoạt theo thời tiết.
Giải pháp tháng nhuận
Để phù hợp với chu kỳ thay đổi thời tiết nóng lạnh, người xưa đã cộng thêm một tháng vào năm thứ ba. Năm đó sẽ có 13 tháng, tháng được cộng thêm gọi là tháng nhuận, và năm đó có 384 hoặc 385 ngày.
Thời tiết thay đổi nóng lạnh là do Trái Đất quay nghiêng quanh Mặt Trời. Trái Đất quay quanh Mặt Trời một vòng, thời tiết thay đổi nóng lạnh một lần. Một vòng quay này là cơ sở hình thành dương lịch. Bởi vậy, dùng cách chia tháng nhuận để tính lịch phù hợp với chu kỳ thay đổi thời tiết chính là kết hợp giữa âm lịch và dương lịch. Cách tính lịch như vậy không còn là âm lịch thuần túy nữa mà là kết hợp giữa lịch âm và lịch dương.
Quan điểm của các chuyên gia về cách gọi lịch âm
Ý kiến từ nhà nghiên cứu lịch Trần Tiến Bình
Theo Báo Dân trí, ThS Trần Tiến Bình, nhà nghiên cứu lịch, tác giả cuốn Lịch Việt Nam thế kỷ XX-XXI, nhận định rằng viết như sách giáo khoa hiện hành rõ ràng chưa đầy đủ vì làm cho học sinh hiểu nhầm là âm lịch dùng ở ta là âm lịch thuần túy, chỉ tuân theo tuần trăng.
Theo ông Bình, lịch âm ở Việt Nam phải gọi chính xác là lịch âm dương vì vừa tuân theo tuần trăng lại vừa gắn với chuyển động của Trái Đất xung quanh Mặt Trời. Âm lịch gọi tắt theo thói quen tại Việt Nam có ngày mùng một đầu tháng gọi là ngày Không Trăng hay ngày Sóc. Ngày Sóc chính là lúc Trái Đất, Mặt Trăng, Mặt Trời theo thứ tự nằm thẳng hàng. Mặt Trăng quay nửa tối về phía Trái Đất, nên ta thường nói tối như đêm 30.
Tính các điểm Sóc liên tiếp sẽ được các tháng âm lịch, đấy là lịch theo tuần trăng. Nhưng để phù hợp với thời tiết khí hậu, lịch ta còn gắn các tháng âm này với 24 tiết khí như Lập xuân, Xuân phân, Cốc vũ, Hạ chí, Tiểu mãn, Đại hàn. Mỗi tiết khí ứng với một vị trí nhất định của Trái Đất quanh Mặt Trời, chẳng hạn Xuân phân ứng với góc 0 độ, Thanh minh ứng với góc 15 độ, Cốc vũ ứng với góc 30 độ, Kinh trập ứng với góc 345 độ.
Khi so sánh các tháng âm với các điểm tiết khí, cụ thể là Trung khí, giúp ta chèn thêm tháng nhuận vào. Bình thường năm âm lịch chỉ có 12 tháng âm, năm nhuận có 13 tháng âm. Điều này giúp khắc phục sự chênh lệch độ dài giữa 12 tháng âm lịch, vốn chỉ có hơn 354 ngày, với năm dương lịch dài hơn 365 ngày. Do chênh lệch khoảng 11 ngày giữa năm âm lịch và dương lịch nên cứ khoảng vài ba năm ta lại thấy xuất hiện tháng nhuận trong âm lịch. Ví dụ, năm Ất Tỵ có tháng 6 nhuận.
Ứng dụng trong giáo dục
Theo Báo Dân trí, cô N.T.T.B, giáo viên dạy địa lý tại Hà Nội, cho rằng định nghĩa về âm lịch trong sách giáo khoa chưa đầy đủ và có thể gây hiểu sai về lịch âm đang được sử dụng tại Việt Nam cũng như nhiều nước khác. Rất nhiều người Việt Nam nghĩ rằng lịch âm mà người Việt hay người Trung Quốc sử dụng là lịch tính theo chu kỳ chuyển động của Mặt Trăng thuần túy. Trong khi đó, lịch âm ở nước ta thực chất là lịch âm dương.
Cô B. nhận định rằng trong sách Cánh diều, phần vận dụng có câu hỏi Tết Nguyên đán của Việt Nam tính theo lịch gì. Nếu học sinh chỉ học đúng theo định nghĩa chung về âm lịch, dương lịch, các em sẽ trả lời là lịch âm. Đây là một câu trả lời sai.
Đại diện Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, lại cho rằng vì sách chỉ định nghĩa dương lịch, âm lịch nói chung nên khái niệm được nêu trong sách là chính xác và đầy đủ.
Cơ chế tính lịch âm dương Việt Nam
Ngày Sóc và tháng âm lịch
Theo Báo Thanh Niên, ông Trần Tiến Bình cho biết thời gian của một tháng âm lịch không cố định mà biến đổi liên tục do tháng âm lịch phụ thuộc vào hoạt động của đồng thời ba thiên thể, gồm Trái Đất, Mặt Trăng, Mặt Trời, chứ không chỉ phụ thuộc vào chu kỳ Mặt Trăng như người dân vẫn lầm tưởng.
Ngày mùng một âm lịch là ngày mà Trái Đất, Mặt Trăng, Mặt Trời theo thứ tự nằm thẳng hàng. Mặt Trăng quay nửa tối về phía Trái Đất, cho nên các cụ ta thường nói tối như đêm 30. Ngày này còn gọi là ngày không trăng hay ngày Sóc. Khi tính thấy điểm Sóc rơi vào bất cứ thời điểm nào trong ngày từ 0 đến 24 giờ thì ngày đó là mùng một âm. Tháng âm lịch là độ dài giữa hai ngày Sóc, được làm tròn thành 29 ngày, gọi là tháng thiếu, hoặc 30 ngày, gọi là tháng đủ. Độ dài tháng âm lịch thay đổi trong khoảng từ 29,27 đến 29,84 ngày, trung bình là 29,53 ngày.
Ảnh hưởng của sai số tính toán
Việc tính toán chuyển động của các thiên thể rất phức tạp, nhất là đối với Mặt Trăng do bị ảnh hưởng nhiễu loạn sức hút từ Mặt Trời, Trái Đất, các hành tinh khác và hình dạng không đều của khối cầu Trái Đất cũng như Mặt Trăng. Vì thế, đôi khi chỉ là do tính sai với độ sai chỉ ở mức vài chục giây đã dẫn đến các tháng thiếu, đủ khác nhau.
Chẳng hạn, theo ấn phẩm công bố năm 2002 của Đài Thiên văn Tử Kim Sơn, Trung Quốc, các ngày 28.9.2057, 4.9.2089 và 7.8.2097 bị tính nhầm sang ngày hôm sau nên đã làm thay đổi độ dài của các tháng tương ứng. Điểm Sóc ngày 28.9.2057 rơi vào 23 giờ 59, điểm Sóc ngày 4.9.2089 rơi vào 23 giờ 57, điểm Sóc ngày 7.8.2097 rơi vào 23 giờ 59.
Cho nên, việc thống kê các tháng chạp đủ, thiếu ở các năm là không mang nhiều ý nghĩa mà tất cả phụ thuộc vào sự tính toán chính xác ở từng thời điểm cụ thể.
Ví dụ về tháng chạp đủ và thiếu
Ông Bình cũng cho biết các năm 2014, 2015, 2017, 2018, 2019, 2020, 2021 có các tháng chạp đủ 30 ngày. Nhưng đến năm 2022 có tháng chạp thiếu 29 ngày. Năm 2023 và 2024 lại đủ. Rồi tiếp tục là các tháng chạp thiếu cho đến năm 2033 mới lại thấy tháng chạp đủ.
Theo Lịch Vạn niên thế kỷ XX-XXI của tác giả Trần Tiến Bình, lịch âm trong năm 2024 có ngày 30 tháng chạp Quý Mão, tức ngày 30 Tết Giáp Thìn. Tuy nhiên, sau đó cho đến năm 2032, năm nào tháng chạp cũng là tháng thiếu. Phải chờ tới năm 2033 mới lại có ngày 30 tháng chạp.
Vì sao lịch Việt Nam có lúc khác lịch Trung Quốc?
Theo Báo Thanh Niên, cách tính lịch âm tại Việt Nam cũng giống như Trung Quốc, đều áp dụng chung cùng một quy tắc như nhau. Đó là ngày đầu tháng là ngày Sóc, năm bình thường có 12 tháng, năm nhuận có 13 tháng, ngày đông chí luôn rơi vào tháng 11, trong năm nhuận tháng không có trung khí là tháng nhuận, tháng này đánh số cùng với tháng trước nó và thêm chữ nhuận. Nếu trong năm nhuận có hai tháng không có trung khí thì tháng đầu tiên sau đông chí được coi là tháng nhuận. Việc tính toán dựa trên kinh tuyến pháp định, ở Việt Nam là 105 độ kinh đông và Trung Quốc là 120 độ kinh đông, tương ứng với múi giờ thứ 7 và thứ 8.
Như vậy, lịch Việt Nam sở dĩ có lúc khác lịch Trung Quốc là do điểm cuối cùng nêu trên. Điều này dựa trên Quyết định số 121-CP ngày 8.8.1967 do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quy định múi giờ chính thức của nước ta là múi giờ thứ 7 và âm lịch sử dụng ở Việt Nam được tính theo múi giờ chính thức này.
Ví dụ, năm 1968, Việt Nam bắt đầu dùng lịch tính theo múi giờ thứ 7. Do vậy, Việt Nam ăn Tết trước Trung Quốc một ngày. Nguyên nhân là vì ngày 31.12.1967 tương ứng với ngày mùng một tháng chạp cả ở lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc, nhưng điểm Sóc kế tiếp xảy ra lúc 23 giờ 29 giờ Việt Nam ngày 29.1.1968 nên tháng chạp ở lịch Việt Nam chỉ có 29 ngày, tức tháng thiếu. Lúc này, theo giờ Bắc Kinh, Trung Quốc đã là 0 giờ 29 ngày 30.1, tức tháng đủ. Do vậy, mùng một Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968 tại Việt Nam sớm hơn Trung Quốc một ngày.
Các loại lịch âm dương khác trên thế giới
Theo Báo Dân trí, ông Trần Tiến Bình cho biết thêm, ngoài lịch âm dương Á Đông đang sử dụng ở Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, còn có cả lịch âm dương ở nơi khác như lịch Do Thái, lịch Hindu. Âm lịch thuần túy chỉ tuân theo tuần trăng là lịch Hồi giáo. Theo đó, ngày đầu năm 2025 theo lịch Hồi giáo rơi vào quãng ngày 8 hoặc 9 tháng 7 dương lịch.
Ở nước ta, theo thói quen vẫn gọi là âm lịch, Tết Âm lịch. Nhưng khi dạy học sinh thì cần nêu đầy đủ và chính xác.
Tết Nguyên đán và cách gọi tên
Theo Báo VietNamNet, Tết Nguyên đán còn có tên gọi khác là Tết Cả, nghĩa là tiết lớn nhất trong năm, Tết Ta để phân biệt với Tết Tây, Tết Âm lịch để phân biệt với Dương lịch, Tết cổ truyền, ngày nay được gọi vắn tắt là Tết.
Theo giáo sư, tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm, Việt Nam nói riêng và các quốc gia Đông Á nói chung thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Do việc canh tác nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên nên người xưa đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết khí để tiện tính toán chu kỳ gieo gặt mùa màng. Trong đó quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán, sau này gọi chệch là Tết Nguyên đán.
Nhật Bản là quốc gia châu Á đã bỏ Tết Nguyên đán. Ganjitsu, Tết cổ truyền của Nhật ngày nay rơi vào ngày 1 tháng 1, là ngày đầu của năm Dương lịch. Như vậy, nước này sẽ ăn Tết sớm hơn các quốc gia láng giềng khoảng một tháng. Dù không tổ chức Tết Nguyên đán, các tục lệ và lễ hội truyền thống vẫn được người Nhật duy trì trong Tết dương như múa sư tử, treo đèn lồng đỏ, nấu những món truyền thống, diễu hành kỷ niệm.
Tổng kết
Việc gọi tắt lịch âm dương thành lịch âm là một thói quen ăn sâu trong đời sống người Việt. Tuy nhiên, về mặt khoa học, cách gọi này không phản ánh đúng bản chất của loại lịch đang được sử dụng. Lịch Việt Nam là lịch âm dương, kết hợp giữa chu kỳ tuần trăng và chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời, với cơ chế tháng nhuận để điều chỉnh cho phù hợp với bốn mùa. Hiểu đúng về bản chất này giúp chúng ta không chỉ nắm rõ hơn về lịch pháp mà còn thấy được sự tinh tế của người xưa trong việc quan sát thiên văn và ứng dụng vào đời sống nông nghiệp.
