Bạn mang năng lượng gì
Xem anh chị mang hành gì theo ba cách người ta hay hỏi: hành của ngày sinh trong Tứ Trụ, mệnh theo năm sinh (như Lộ Bàng Thổ) và con số thần số học. Nhập ngày sinh, thêm giờ sinh và họ tên nếu có, anh chị nhận ba câu trả lời đặt cạnh nhau kèm cách tính.
Từ đâu ra
Trang đặt ba cách trả lời câu "tôi mệnh gì" cạnh nhau: hành của can ngày sinh (nhật chủ) theo Tử Bình, mệnh nạp âm của năm sinh theo bảng lục thập hoa giáp, và các số của thần số học, một hệ hiện đại. Bước chọn hành cần bồi (dụng thần) là một quy tắc đếm của Nhật Nguyệt, ở đúng chỗ các phái khác nhau nhiều nhất.
Điển tích & thơ cổ
“Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ.”
Tục ngữ Việt Nam · Nói về chọn đất dựng nhà
Xem tiếp
Hôm nay tôi thế nào
Muốn biết hôm nay hợp hay xung với tuổi mình? Hôm nay tôi thế nào xét can chi của ngày với tuổi anh chị.
Mở Hôm nay tôi thế nàoĐiều chưa ai chứng minh
Chưa có nghiên cứu nào cho thấy hành của ngày sinh, mệnh của năm sinh hay con số của tên nói đúng về một người. Ba cách thường cho ba câu trả lời khác nhau, và đó là chuyện bình thường.
Đọc tiếp
Hỏi Nhật Nguyệt AI
Tìm hiểu thêm
Vì sao hỏi "tôi mệnh gì" lại có ba câu trả lời?
Người ta hỏi "tôi mệnh gì" theo ba cách khác nhau, và mỗi cách tính từ một chỗ khác. Trang đặt ba câu trả lời cạnh nhau thay vì chọn một.
Cách thứ nhất là hành của ngày sinh. Trong Tứ Trụ (Bát Tự), can của ngày sinh gọi là nhật chủ, được coi là chính anh chị. Ví dụ sinh ngày Kỷ Mão thì nhật chủ là Kỷ, hành Thổ. Trụ ngày đổi lúc 23h, nên sinh sau 23h mang can chi của ngày hôm sau.
Cách thứ hai là mệnh theo năm sinh, thứ người Việt quen hỏi "tuổi gì mệnh gì": sinh năm Canh Ngọ 1990 là Lộ Bàng Thổ, Giáp Tý 1984 là Hải Trung Kim. Mệnh này thường khác hành của ngày sinh, vì một bên tính từ năm, một bên từ ngày. Khác nhau là chuyện bình thường.
Cách thứ ba là thần số học phương Tây: Số Đường Đời cộng từ ngày sinh, và các số tính từ họ tên. Tên tiếng Việt được bỏ dấu trước khi tra bảng chữ (ă, â về a; đ về d...), nên đổi cách viết tên là đổi số.
Phần cân bằng ngũ hành đếm tám chữ của lá số, riêng chi tháng tính đôi. Phần nâng đỡ trội hơn thì gọi là thân vượng và chọn hành làm vơi bớt; phần tiêu hao trội hơn thì gọi là thân nhược và chọn hành bồi thêm; trong nhóm ấy lấy hành đang ít nhất. Bước chọn này (dụng thần) là chỗ các phái khác nhau nhiều nhất, và cùng một lá số có thể ra hai kết luận trái ngược tuỳ sách.
Giờ sinh và họ tên đều tuỳ chọn. Thiếu giờ sinh thì lá số chỉ có ba trụ, đếm trên sáu chữ; thiếu họ tên thì không có các số tính từ tên.
| Hành | Nét thường được nhắc | Mặt cần để ý |
|---|---|---|
| Mộc | Vươn lên, mở rộng, thích cái mới | Dễ mở nhiều việc rồi bỏ dở |
| Hỏa | Sôi nổi, lan toả nhanh | Nhanh đuối sức |
| Thổ | Bền bỉ, giữ và nuôi, là chỗ dựa | Gánh quá phần mình, ngại đổi |
| Kim | Rõ ràng, có nguyên tắc | Nói thẳng không đúng lúc |
| Thủy | Linh hoạt, đọc được tình thế | Dễ trôi theo việc của người khác |
Câu hỏi thường gặp
Vì sao mệnh theo năm sinh khác hành nhật chủ của tôi?
Vì hai thứ tính từ hai chỗ: mệnh theo năm sinh lấy từ can chi năm, hành nhật chủ lấy từ can của ngày sinh. Khác nhau là bình thường, không bên nào tính sai.
Không biết giờ sinh có xem được không?
Được. Lá số khi đó có ba trụ, phần đếm ngũ hành tính trên sáu chữ thay vì tám, nên kết luận về hành nên bồi có thể đổi khi thêm giờ sinh.
Có cần nhập họ tên không?
Không bắt buộc. Không có họ tên thì vẫn có hành nhật chủ, mệnh theo năm sinh và Số Đường Đời; chỉ thiếu các số tính từ tên.
Lá số thiếu một hành có sao không?
Không. Thiếu hành chỉ là cách tám chữ phân bố. Người xem Bát Tự đọc đó là điều anh chị không có sẵn và phải học thêm, không phải điềm xấu, cũng không phải thứ cần mua vật phẩm về bù.
Vì sao trang không gộp ba câu trả lời thành một?
Vì ba cách đến từ ba hệ khác nhau và không hệ nào có thang đo chung với hệ kia. Gộp lại là tự đặt ra một phép tính không thuộc truyền thống nào.
Nội dung này có giúp được anh chị không?
