Giới thiệu
Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội, quê ở Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội. Ông là một trong những nhà văn lớn nhất của văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời là cây bút báo chí uy tín. Ông mất năm 1987 tại Hà Nội. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957 và được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, nghệ thuật đợt I năm 1996.
Sự nghiệp văn chương và báo chí
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân đã đóng góp nhiều bài ký, tùy bút, tạp văn trên các tờ báo nổi tiếng như Ngày Nay, Thanh Nghị, Tiểu thuyết thứ bảy, Ích Hữu, Hà Nội báo. Khác với các cây bút hiện thực phê phán cùng thời, ông viết báo bằng giọng điệu tài hoa, duy mỹ và cái tôi tự sự độc đáo. Bút ký Một chuyến đi (Ngày Nay, 1939) ghi lại hành trình theo đò ngược sông Đà, được xem là tiền đề cho thiên tùy bút nổi tiếng Người lái đò sông Đà sau này. Tác phẩm Chén trà trong sương sớm (Thanh Nghị, 1940) là bài báo mang chất tùy bút, ca ngợi nét đẹp văn hóa thưởng trà.
Tác phẩm tiêu biểu
Các tác phẩm của Nguyễn Tuân giàu chất trí tuệ và vẻ đẹp ngôn ngữ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông có các tác phẩm như Chữ người tử tù, Thiếu quê hương. Các tập tùy bút tiêu biểu gồm Một chuyến đi (1938), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tàn đèn dầu lạc (1941), Tóc chị Hoài (1943), Đường vui (1949), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988). Bút ký có Tình chiến dịch (1950), Đi thăm Trung Hoa (1955), Cô Tô (1965), Ký (1976). Phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939). Tiểu thuyết Chùa Đàn (1946), Thắng càn (1953). Tập truyện ngắn Vang bóng một thời (1940), Nguyễn (1945). Truyện thiếu nhi Chú Giao làng Seo (1953), Truyện một cái thuyền đất (1958). Tiểu luận Yêu ngôn (2000). Tuyển tập Nguyễn Tuân gồm hai tập (1981, 1982).
Phong cách
Nguyễn Tuân là người tiên phong trong thể loại ký báo chí, viết bằng cảm nhận chủ quan, tự sự, gợi hình và đậm chất văn chương. Ông được xem là người đưa ngôn ngữ báo chí Việt Nam lên tầm nghệ thuật, với câu văn trau chuốt, giàu nhạc tính. Sau Cách mạng, ông chuyển sang viết ký sự chiến trường, phục vụ kháng chiến nhưng vẫn giữ phong cách duy mỹ. Ông còn viết các bài tùy bút, tiểu luận về Tú Xương, Sê-khốp, Đốt-tôi-ép-xki, Nguyễn Du, Lép Tôn-xtôi, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng. Nhà thơ Nga E. Ép-tu-xen-cô gọi ông là "nhà văn cổ điển Việt Nam".