Nghề làm nón lá làng Chuông - hồn quê trong từng chiếc nón
Giữa nhịp sống đô thị hóa ngày càng nhanh, vẫn còn đó một ngôi làng ở ngoại thành Hà Nội âm thầm gìn giữ nghề làm nón lá truyền thống qua nhiều thế hệ. Làng Chuông, thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội, từ lâu đã được biết đến như một trong những cái nôi của nghề làm nón lá nổi tiếng nhất miền Bắc. Trải qua bao thăng trầm, nghề nón nơi đây không còn hưng thịnh như thời hoàng kim nhưng những người thợ tâm huyết vẫn ngày ngày giữ lửa, thổi hồn quê vào từng đường kim mũi chỉ.
Tinh hoa nghề nón qua bàn tay người thợ làng Chuông là gì?
Theo lời các cụ cao niên trong làng, nghề làm nón ở làng Chuông đã có từ hàng trăm năm nay. Nghề được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ trước sang thế hệ sau, tạo nên một cộng đồng những người thợ lành nghề với bàn tay tỉ mỉ, khéo léo. Điều làm nên thương hiệu nón làng Chuông chính là sự công phu trong từng công đoạn và những bí quyết riêng không lẫn vào đâu được.
Nguyên liệu chính để làm nón là lá lụi, được mua từ các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Lá trải qua nhiều công đoạn xử lý như vò với cát cho mềm, phơi lá khô rồi duỗi cho thẳng trước khi có thể sử dụng. Người thợ phải biết chọn lá thật trắng, không rách và phải là thật phẳng, không để ngả màu. Tre, nứa làm vành được vót tròn, đều tăm tắp, tạo khung xương vững chắc cho chiếc nón.
Làm nón có nhiều khâu nhưng khó nhất, đồng thời quyết định thẩm mỹ của chiếc nón chính là khâu quay nón. Khâu này đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, cẩn thận, tỉ mỉ thì chiếc nón mới phẳng đẹp. Khi quay nón, người thợ phải khéo léo để không làm hở chóp, lá được xếp đều nhau tránh bị cộm. Chỉ một chút lơ đễnh, chiếc nón sẽ mất đi sự hoàn hảo vốn có.
Bí quyết mũi khâu giấu kín đặc trưng của làng Chuông là gì?
Điểm khác biệt lớn nhất tạo nên danh tiếng của nón làng Chuông so với các làng nghề khác nằm ở kỹ thuật khâu tinh xảo. Người thợ làng Chuông có biệt tài giấu kín các múi nối sợi móc khi khâu. Khi nhìn vào chiếc nón hoàn thiện, người ta chỉ thấy đều tăm tắp những mũi khâu nhỏ, không hề lộ ra bất kỳ một mối nối nào. Để đạt được điều này, mũi khâu phải ngắn, lỗ nhỏ thì chiếc nón mới tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu. Khi khâu cũng không được làm đứt cước, bởi chỉ một sợi cước đứt sẽ làm hỏng cả sự liền mạch của đường kim.
Chính sự cầu kỳ, tỉ mỉ trong từng đường khâu mũi chỉ đã tạo nên nét riêng biệt không thể trộn lẫn của nón làng Chuông. Khách sành chơi nón sẽ biết tìm về làng Chuông để mua bởi sản phẩm nơi đây mang nhiều đặc trưng riêng, bền đẹp và tinh tế hơn hẳn.
Thăng trầm của một làng nghề truyền thống
Nhớ lại thời kỳ hưng thịnh của làng nghề, bà Phạm Thị Phấn, một nghệ nhân lâu năm chia sẻ: Khoảng vài chục năm về trước, ở làng nhà nhà làm nón, người già, người trẻ thi nhau đan nón. Ngày ấy, làm nón truyền thống là nghề chính của người dân trong làng. Người già chỉ dạy cho lớp trẻ học nghề, cả làng lúc nào cũng đông vui tấp nập. Tuy nhiên, khoảng 2 năm trở lại đây, tình hình dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu nón đi các nước, kéo theo thu nhập của người dân không còn cao như trước.
Thực trạng này không chỉ riêng làng Chuông mà đang diễn ra tại nhiều làng nghề truyền thống khác trên cả nước. Sự mai một dần của nghề khiến nhiều người trẻ rời làng đi tìm công việc khác, chỉ còn những người lớn tuổi gắn bó với nghề vì tình yêu và nỗi niềm gìn giữ hồn quê.
Bài toán phát triển du lịch làng nghề bền vững như thế nào?
Một trong những hướng đi được kỳ vọng giúp làng nghề hồi sinh là phát triển du lịch trải nghiệm. Tuy nhiên, du lịch nón làng Chuông hiện nay đa phần phát triển theo hình thức tự phát, nhỏ lẻ, thiếu liên kết dẫn đến hiệu quả thấp. Nghệ nhân Tạ Thu Hương, người đã xây dựng được 6 sản phẩm OCOP 4 sao do Sở Công thương thành phố Hà Nội chấm điểm, cho biết các hoạt động du lịch trải nghiệm tại làng hiện nay bao gồm tham quan đình, chùa, trải nghiệm sinh hoạt trong không gian nhà cổ. Khách du lịch còn được các nghệ nhân giới thiệu về lịch sử làng Chuông cũng như trực tiếp trải nghiệm cách làm nón.
Tuy nhiên, các hoạt động trên khá đơn điệu, chỉ thu hút một bộ phận học sinh và du khách nước ngoài. Nón lá là sản phẩm độc nhất, hầu như không có sản phẩm phụ trợ liên quan nên sức mua của khách không cao. Ông Phạm Việt Hùng, Chủ tịch UBND xã Phương Trung cho biết, địa phương đang thiếu không gian để giới thiệu, quảng bá và phát triển sản phẩm. Việc liên kết các cơ sở, hộ gia đình làm nghề vẫn phải chờ cơ chế, chính sách từ nhà nước. Để đầu tư làm du lịch làng nghề cần mặt bằng rộng, tốn kém kinh phí trong khi chưa có nhiều người muốn đầu tư.
Xã Phương Trung hiện tập trung nhiều làng nghề với sản phẩm đặc trưng như làm nón, làm quạt, làm lồng chim nhưng do thiếu tổ chức đứng ra liên kết, chưa tạo được chuỗi du lịch trải nghiệm có hệ thống. Khách du lịch muốn tham quan phải tự liên hệ với từng địa chỉ và đưa ra yêu cầu riêng lẻ.
Làm sao giữ lửa nghề truyền thống cho thế hệ mai sau?
Thành phố Hà Nội đã có quyết định thành lập cụm công nghiệp nhằm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề. Xã Phương Trung dự định dành một khu vực riêng để quảng bá và giới thiệu sản phẩm, tạo bước đệm cho phát triển du lịch, qua đó gìn giữ truyền thống nghề làm nón làng Chuông. Nghề làm nón yêu cầu sự công phu, cần mẫn và nhiệt huyết của người làm nghề. Những người dân tâm huyết luôn mong Nhà nước có chính sách hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện cho nghệ nhân tìm được cơ hội phát triển tốt hơn, gìn giữ nghề cho thế hệ mai sau.
Nón lá làng Chuông đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường, là biểu tượng văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc bảo tồn và phát triển nghề không chỉ giữ gìn một sinh kế mà còn lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc, để mỗi chiếc nón lá vẫn mãi là hồn quê Việt trong lòng người.
Bài tổng quan chủ đề: Nghề thủ công truyền thống Việt Nam gồm những nghề nào?
