Tổng quan về tục thờ cúng tổ tiên của người Việt
Thờ cúng tổ tiên là một phần không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt, không phân biệt giàu nghèo hay địa vị xã hội. Tục này có nguồn gốc từ nền kinh tế nông nghiệp trong xã hội phụ quyền xưa, sau đó được Nho giáo bổ sung nền tảng triết lý qua chữ hiếu. Đến thế kỷ XV, nhà Lê thể chế hoá việc thờ cúng tổ tiên, Bộ luật Hồng Đức quy định con cháu phải thờ cúng tổ tiên năm đời (cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ), và quy định ruộng hương hoả, ruộng đèn nhang không được cầm bán dù con cháu nghèo. Đến thời Nguyễn, nghi lễ thờ cúng tổ tiên được ghi rõ trong sách Thọ mai gia lễ.
Ở Nam Bộ, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng xuất phát từ cội nguồn ý thức dân tộc, nhưng biểu hiện với những sắc thái đa dạng trên những toạ độ lịch sử và văn hoá khác nhau. Các nguồn đều nhấn mạnh một điểm chung: lực hướng tâm là sự tri ơn nguồn cội và cố kết dòng họ.
Bàn thờ gia tiên Bắc Bộ
Bàn thờ gia tiên Bắc Bộ
Theo mô tả phổ biến của nguồn Báo Điện tử Chính phủ, ngôi nhà truyền thống của người Việt thường có ba hoặc năm gian, gian giữa là chỗ trang trọng nhất, là trung tâm của nhà, nên bàn thờ thường được lập ở chính giữa gian này. Với gia đình nghèo, bàn thờ có khi chỉ là vạt phên tre giữa hai cột trong của gian giữa, bên trong có bát hương nhỏ. Với gia đình thuộc loại thường thường bậc trung trở lên, bàn thờ được đóng đàng hoàng, có gia chủ dùng mặt tủ làm bàn thờ hoặc đóng giá gác lên tường. Dù thiết kế thế nào, bàn thờ luôn phải ở vị trí trang trọng, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi người tỏ được sự ngưỡng vọng thành kính với tổ tiên.
Cấu tạo bàn thờ Bắc Bộ theo mô tả này gồm: khám, ngai hoặc bài vị được chạm khá cầu kỳ và sơn thếp cẩn thận. Trước bài vị có một hương án rất cao. Trên hương án, chính giữa là bát hương để cắm hương khi cúng lễ, bát hương được chăm nom cẩn thận và không được xê dịch. Đằng sau bát hương là một chiếc kỷ nhỏ, trên kỷ có ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm, ba đài này đựng ba chén rượu nhỏ lúc cúng lễ. Hàng ngày đài được đậy nắp tránh bụi, chỉ mở ra trong dịp lễ Tết, ngày rằm, mùng một.
Hai bên bát hương là hai cây đèn (hai ngọn đèn dầu) hoặc hai cây nến, ngày nay tại các đô thị người ta thắp hai cây đèn điện. Gần hai bên bát hương, ngoài hai cây đèn có khi còn có hai con hạc chầu hai bên. Ở mé ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương án là hai ống hương dùng để đựng hương. Ngoài ra còn có một lọ lộc bình hoặc đôi song bình bày trên bàn thờ để cắm hoa trong những ngày giỗ chạp, ngày Tết. Tấm biển treo cao nằm ngang trên mé trước bàn thờ, trên có những chữ Hán thật lớn, nhiều nhà dùng chữ Nôm (thường là ba, bốn chữ) là hoành phi. Hai bên cột hoặc hai bên tường nhà có treo những câu đối.
Về số đời thờ cúng, Bộ luật Hồng Đức quy định con cháu phải thờ cúng tổ tiên năm đời. Nguồn Báo Điện tử Chính phủ dẫn quy định này khi nói về nền tảng pháp lý và đạo lý của tục thờ cúng ở Bắc Bộ.
Về đồ lễ, mỗi lần cúng tế tuỳ theo gia chủ nghèo, giàu và tuỳ buổi lễ, đồ lễ có thể gồm rượu, hoa quả, vàng hương, xôi chè, oản, cỗ mặn, có khi thêm đồ hàng mã. Trong trường hợp cần thiết, đồ lễ có thể chỉ cần một chén nước mưa, một nén hương thắp lên bàn thờ là đủ. Bàn thờ khi làm lễ phải thắp đèn hay thắp nến. Hương trên bàn thờ bao giờ cũng thắp theo số lẻ (một hoặc ba nén) và các nén hương phải được cắm ngay ngắn. Khi chân hương trong bát hương đã đầy, gia chủ thắp hương xin phép tổ tiên nhổ chân hương, đem hoá thành tro rồi đổ xuống ao hồ.
Ngày Tết, việc trang hoàng bàn thờ tuỳ điều kiện hoàn cảnh mỗi nhà nhưng dứt khoát nhà nào cũng phải bày mâm ngũ quả. Thông thường ngũ quả gồm năm loại quả có năm màu khác nhau như chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam, tượng trưng cho năm mong ước: phú (giàu có), quý (sang trọng), thọ (sống lâu), khang (khoẻ mạnh), ninh (bình yên). Nguồn Báo Điện tử Chính phủ cho biết người miền Bắc hướng đến ý nghĩa biểu trưng nhiều hơn: quả phật thủ hay nải chuối như bàn tay che chở của đức Phật cho tất cả mọi người; quả bưởi, dưa hấu thể hiện sự đầy đặn, trọn vẹn, căng đầy sức sống; màu sắc thắm tươi của quýt, hồng tượng trưng cho sự may mắn, phồn thịnh, cát tường.
Bàn thờ gia tiên Nam Bộ
Bàn thờ gia tiên Nam Bộ
Theo nguồn Đại Đoàn Kết, ở Nam Bộ mỗi gia đình người Việt dù nghèo hay giàu đều lập nơi thờ tổ tiên. Nhà nghèo thì lập nơi thờ đơn sơ, nhà khá giả thì có phòng thờ riêng, còn nhà giàu có thể xây một nhà thờ riêng. Nguồn này dẫn Sơn Nam trong sách Thuần phong mỹ tục Việt Nam: ngày xưa ở Nam Bộ bàn thờ ông bà gọi là giường thờ, đó là cái giường cha mẹ thường nằm để thờ ngay giữa nhà. Phía trước giường thờ đặt tủ thờ. Cái giường thờ do nhu cầu thu hẹp dần được thay thế bằng cái bàn thấp, đặt sát vách, bày thức ăn khi làm đám giỗ. Trước giường thờ là cái tủ thờ hay bàn thờ khá cao che khuất. Hồi cuối thế kỷ XIX, bàn thờ có bốn chân, cao hơn cái giường thờ.
Từ thập niên 1930, xuất hiện tủ thờ, được thiết kế gọn gàng, mô phỏng từ kiểu tủ Pháp vào thời vua Louis XVI. Nhiều gia đình đã sử dụng tủ thờ thay cho giường thờ, bàn thờ. Dòng tủ thờ danh tiếng do thợ Gò Công (Mỹ Tho) ở ấp Ông Non đóng, có mặt tiền bít kín bằng tấm ván to hình hột xoài uốn cong, chạm trổ hai hàng chuỗi khít nhau, tượng trưng cho hình hai cánh cửa. Bên trong tủ thờ để đồ thờ tự như nhang đèn, hoa quả, bình tách, chai rượu quý, các loại giấy tờ hành chánh, hộ tịch, di cảo điền thổ, gia phả. Những gia đình giàu có mua tủ kính lớn để làm tủ thờ, sau này là các tủ búp phê, trên đặt di ảnh ông bà, cha mẹ.
Với những ngôi nhà rộng rãi, bàn thờ có hai cấp: bên trong là bàn cơm thấp, dọn cỗ cúng và để các di vật kỷ niệm của người đã khuất như quả, tráp, gậy, nón; bên ngoài là tủ thờ hoặc ghế thờ nơi để đồ tự khí như lư, đỉnh, chân đèn, dĩa, chò, bình hoa, chung trà, tô nước (theo Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan, Hướng Thu Hương, Hỏi đáp về tập tục tín ngưỡng và lễ thức theo vòng đời người xưa và nay).
Thông thường bàn thờ gia tiên trong một gia đình, theo hướng từ bên ngoài nhìn vào: tủ thờ, trên tủ thờ có đặt một bát hương, bộ lư đồng (một đỉnh xông trầm, hai chân đèn), nhà giàu thì bộ lư và chân đèn to; bình bông (bên phải), chò đĩa trái cây (bên trái) theo quy tắc đông bình tây quả, ba chung nước cúng. Bàn nghi đặt bài vị, di ảnh người quá vãng và là nơi đặt mâm cơm khi cúng. Tấm vách ngăn có cũng được, không có cũng được. Ngày xưa những nhà nghèo ở nông thôn trên bàn thờ cũng chỉ có tấm vách, thậm chí làm bằng tấm bồ, di ảnh và bát nhang được đặt trên tấm ván.
Với những nhà có ba gian: ở giữa thờ Phật, thần thánh hoặc trang thờ Cao Đài; bên trái thờ Cửu Huyền Thất Tổ; bên phải thờ ông bà cha mẹ quá vãng. Gian giữa thờ Cửu Huyền Thất Tổ, bên trái thờ ông bà cha mẹ quá vãng. Với những nhà gia đình có truyền thống làm thầy pháp thì thờ Cao Huyền Cố Tổ (hoặc Cao Huyền Thất Tổ). Còn lại các gia đình bình thường thờ Cửu Huyền Thất Tổ. Có gia đình thờ Cửu Huyền Thất Tổ ở trên cùng, dưới là thứ bậc dòng họ. Tran thờ Phật tổ, Quan Âm, Quan Công để thấp hơn, bên phải. Hoặc ở những ngôi nhà cổ có tran thờ Quan Công trên cao, bên trái bàn thờ gia tiên.
Về số đời thờ cúng, nguồn Đại Đoàn Kết cho biết trong việc thờ cúng tổ tiên ngày xưa còn có tục ngũ đại mai thần chủ: người chủ nhà thờ bốn đời trở lên (đời cha, ông nội, ông cố và ông sơ), khi đời thứ năm lên thì bài vị đời đầu tiên sẽ được đem chôn cất hoặc hoá (đốt). Ở Nam Bộ, bàn thờ gia tiên thường chỉ thờ hai đến ba đời.
Trên bàn thờ truyền thống thường có gắn tranh sơn thuỷ, tranh thuỷ mặc, vẽ trên chất liệu gỗ, kiếng hoặc trực tiếp trên tường. Ở giữa là bức tranh kiếng với những chữ như Phúc, Lộc, Thọ. Nội dung các bức tranh này là phong cảnh đồng quê, nhà cửa, sông nước, mây núi, ghe thuyền, kèm theo hai bên là những đôi câu đối thể hiện ước vọng của con cháu mong cho người chết ở thế giới bên kia có cuộc sống sung túc, ấm no. Phía trên và ở trước bàn thờ là bức hoành phi với những dòng chữ như Đức lưu phương, Quang thế trạch, Lan quế đằng phương, Tử tôn vị phát, Vi thiện tối lạc, Đạo lý tối đại. Hai bên hoành phi treo đôi câu đối có nội dung ca tụng công đức tổ tiên hoặc thể hiện lòng biết ơn của con cháu.
Về cách thờ ảnh, trước đây trên bàn thờ gia tiên thường thờ người quá vãng bằng bài vị viết bằng chữ Hán, về sau họa hình người mất bằng tranh truyền thần trắng đen, rồi tranh màu, tranh gối, tranh kiếng, đến khi có máy ảnh thì có ảnh trắng đen, rồi ảnh màu.
Về cách sắp xếp khi có nhiều bàn thờ, nguồn Đại Đoàn Kết dẫn Trương Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Phan, Hướng Thu Hương: nếu nhà có hai bàn thờ thì một bàn thờ cha mẹ chồng, một bàn thờ cha mẹ vợ; hoặc một bàn thờ cha mẹ, một bàn thờ ông bà. Nếu là ba bàn thờ thì gồm bàn thờ cha mẹ, bàn thờ ông bà và bàn thờ tổ tiên. Trường hợp chỉ có một bàn thờ thì thờ chung cha mẹ, ông bà và tổ tiên. Cách sắp xếp theo nguyên tắc: cha mẹ gần nhất nên việc thờ cúng quan trọng hơn ông bà, nên bàn thờ cha mẹ phải đặt giữa nhà hay vị trí quan trọng là phía bên trái (phía gốc cây đòn dông); bàn thờ ông bà đặt bên phải (phía ngọn cây đòn dông), nhìn từ trong nhà ra. Ngày nay để giản tiện, cha mẹ ruột và cha mẹ vợ, ông bà nội và ông bà ngoại, anh em đều được để chung một bàn thờ. Vị trí nam nữ của những người đã khuất trên bàn thờ quy định theo kiểu nam tả nữ hữu (từ bên trong nhìn ra), nhưng đôi khi một số gia đình do không hiểu nên cũng sắp lộn xộn; tuy nhiên thứ bậc trên dưới giữa các thế hệ thì phải luôn luôn bảo đảm.
Về mâm ngũ quả, nguồn Báo Điện tử Chính phủ cho biết người Nam Bộ có cách đọc chại âm hay đơn tiết hoá một số từ: mãng cầu gọi đơn tiết hoá là Cầu (thoả mãn trong sự cầu xin), Sung (sung túc, sung mãn), Vừa (đọc chệch âm là dừa), Đủ (đơn tiết hoá của đu đủ) và Xài (cách đọc chệch của âm xoài).
Bảng so sánh những điểm khác biệt chính
| Tiêu chí | Bàn thờ gia tiên Bắc Bộ | Bàn thờ gia tiên Nam Bộ |
|---|---|---|
| Vị trí trong nhà | Gian giữa, chỗ trang trọng nhất của nhà ba hoặc năm gian | Nhà nghèo lập nơi thờ đơn sơ, nhà khá giả có phòng thờ riêng, nhà giàu có thể xây nhà thờ riêng |
| Cấu tạo, vật dụng chính | Hương án cao, khám, ngai, bài vị chạm sơn thếp, kỷ nhỏ với ba đài rượu, hai cây đèn hoặc nến, hai ống hương, lộc bình hoặc song bình | Giường thờ (cách gọi xưa), tủ thờ, bàn thờ bốn chân, tủ thờ kiểu Pháp từ thập niên 1930, bàn nghi đặt bài vị và di ảnh, bộ lư đồng, quy tắc đông bình tây quả |
| Số đời thờ cúng | Bộ luật Hồng Đức quy định thờ năm đời | Thường chỉ thờ hai đến ba đời, có tục ngũ đại mai thần chủ |
| Cách chọn mâm ngũ quả | Hướng đến ý nghĩa biểu trưng: phật thủ, nải chuối, bưởi, dưa hấu, quýt, hồng | Đọc chại âm hoặc đơn tiết hoá tên quả: Cầu, Sung, Vừa, Đủ, Xài |
| Cách thờ ảnh, bài vị | Bài vị, khám, ngai đặt trên hương án | Bài vị chữ Hán, sau chuyển sang tranh truyền thần, tranh kiếng, ảnh trắng đen rồi ảnh màu |
Vì sao bàn thờ hai miền lại khác nhau?
Các nguồn tham khảo đưa ra một số cách lý giải. Nguồn Báo Điện tử Chính phủ nhấn mạnh bối cảnh lịch sử: tục thờ cúng tổ tiên có nguồn gốc từ nền kinh tế nông nghiệp trong xã hội phụ quyền xưa, khi Nho giáo du nhập thì chữ hiếu được đề cao, đến thế kỷ XV nhà Lê thể chế hoá việc thờ cúng, đến thời Nguyễn nghi lễ được ghi rõ trong Thọ mai gia lễ. Nguồn này cũng cho biết kiến trúc nhà ở nông thôn ít biến đổi nên kiểu bàn thờ cổ truyền vẫn phát huy tác dụng, còn nhà có kiến trúc, nội thất hiện đại ở thành phố thì cách bố trí và đồ thờ cũng biến đổi cho phù hợp với toàn cảnh ngôi nhà.
Nguồn Đại Đoàn Kết lại lý giải theo hướng khác: bàn thờ gia tiên ở Nam Bộ là sản phẩm của một quá trình lịch sử và văn hoá trong tập tục thờ cúng tổ tiên trên vùng đất phương Nam. Nó vừa kế thừa truyền thống văn hoá của dân tộc, đồng thời thể hiện sự sáng tạo trong thực hành tín ngưỡng nơi vùng đất mới, là sự hoà quyện những giá trị cốt lõi và tích hợp thêm những yếu tố mới phù hợp trong niềm ngưỡng vọng hướng về cội nguồn. Cũng theo nguồn này, sự xuất hiện của tủ thờ kiểu Pháp từ thập niên 1930 và các dòng tủ thờ Gò Công là một ví dụ cho quá trình tích hợp đó.
Những điểm các nguồn chưa thống nhất
Cần lưu ý rằng các nguồn tham khảo hiện có không thống nhất ở một số chi tiết. Về số đời thờ cúng, nguồn Báo Điện tử Chính phủ dẫn quy định năm đời của Bộ luật Hồng Đức khi nói về Bắc Bộ, còn nguồn Đại Đoàn Kết nói ở Nam Bộ bàn thờ gia tiên thường chỉ thờ hai đến ba đời và có tục ngũ đại mai thần chủ. Hai nguồn này không mâu thuẫn trực tiếp, nhưng cũng không đưa ra số liệu đối chiếu trực tiếp giữa hai miền.
Về cấu tạo bàn thờ, nguồn Báo Điện tử Chính phủ mô tả bàn thờ Bắc Bộ với hương án, khám, ngai, kỷ nhỏ và ba đài rượu. Nguồn Đại Đoàn Kết mô tả bàn thờ Nam Bộ với giường thờ, tủ thờ, bàn nghi, bộ lư đồng. Cả hai nguồn đều không cung cấp thông tin về các chi tiết của vế còn lại, nên không thể kết luận rằng một chi tiết nào đó chỉ có ở miền này mà không có ở miền kia.
Về mâm ngũ quả, nguồn Báo Điện tử Chính phủ đưa ra cách lý giải khác nhau giữa hai miền, nhưng không nói rõ sự khác biệt này có phải là quy tắc cố định hay chỉ là xu hướng chung.
Tạm kết
Bàn thờ gia tiên của người Việt ở Bắc Bộ và Nam Bộ đều hướng về tổ tiên với lòng tri ơn nguồn cội và cố kết dòng họ. Sự khác biệt về cấu tạo, cách bày biện, số đời thờ cúng và cách chọn mâm ngũ quả phản ánh điều kiện lịch sử, văn hoá và môi trường sống của từng vùng. Các nguồn tham khảo hiện có mô tả hai vế ở những mức độ chi tiết khác nhau, và không thống nhất ở một số điểm, nên bài viết chỉ trình bày những gì có căn cứ và ghi rõ chỗ chưa đầy đủ.
