Dân tộc Chứt là ai và định cư ở đâu?
Dân tộc Chứt là một trong 54 dân tộc Việt Nam, có tên tự gọi là Chứt, tên gọi khác gồm Rục, Arem, Sách. Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, dân tộc Chứt có các nhóm địa phương là Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng. Địa bàn cư trú chính của người Chứt là vùng núi thuộc tỉnh Quảng Bình, cụ thể ở các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch và Minh Hoá.
Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân số người Chứt là 7.513 người. Trước đó, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, con số này là 6.022 người.
Nguồn gốc lịch sử của người Chứt
Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vì nạn giặc giã và thuế khoá nặng nề, họ phải chạy lên nương náu ở vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện Minh Hoá và Bố Trạch. Theo gia phả của một số dòng họ người Việt trong vùng, các nhóm Rục và Sách đã cư trú tại vùng núi này ít nhất trên 500 năm.
Tiếng nói của người Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ nào?
Tiếng nói của người Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, ngữ hệ Nam Á. Đây là một điểm đáng chú ý vì trong khi nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc các nhóm ngôn ngữ khác như Môn - Khơ Me, Tày - Thái, Mông - Dao, thì người Chứt lại chia sẻ nhóm ngôn ngữ với người Kinh và người Mường.
Hoạt động sản xuất và đời sống kinh tế
Người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm. Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp, các nhóm khác coi hái lượm và săn bắn là nguồn sống quan trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa. Các giống cây trồng chính gồm ngô, sắn, đỗ, lúa.
Công cụ sản xuất gồm rìu, rựa, gậy chọc lỗ; ở nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Từ khi định cư, người Chứt đã nuôi trâu, bò phục vụ cày bừa và làm sức kéo. Đan lát chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong gia đình. Đôi nơi, họ biết thêm nghề rèn dao, rìu.
Người Chứt (nhóm Rục) nổi tiếng với kỹ thuật trèo cây lấy mật ong ở các tổ ong trên cây cao. Họ leo thang bằng dây mây, mỗi nấc thang là một vòng dây buộc vào thân cây, có chỗ đặt bàn chân. Leo đến đâu, buộc vòng thang đến đó.
Ăn uống
Lương thực chủ yếu là ngô và sắn. Ngày ăn hai bữa trưa và tối. Những năm mất mùa, họ phải ăn bột báng (bột nhúc) đồ thay cơm quanh năm.
Trang phục
Người Chứt không biết dệt vải, vải mặc mua hoặc trao đổi với người Việt, người Lào trong vùng giáp biên. Mùa hè, nam giới đóng khố, cởi trần; phụ nữ mặc váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ cây. Hiện nay, đồng bào ăn mặc giống như người Việt.
Nhà ở
Người Chứt quen ở trong các túp lều dùng dây buộc, dùng cột ngoãm, hoặc ở trong các hang đá, mái đá. Cho đến trước năm 1954, các nhóm Rục và Arem chủ yếu vẫn sống trong các hang đá, mái đá. Ngày nay, họ sống tập trung ở các bản nhỏ trong các thung lũng, nhà cửa đã khang trang hơn trước.
Nét nổi bật của ngôi nhà sàn người Chứt (nhóm Arem) là hai chiếc khau cút được bố trí ở hai đầu nóc nhà. Khau cút được làm từ hai đoạn cây lồ ô hoặc gỗ buộc chéo nhau tại một góc vuông. Nửa trên được vót nhọn, nửa dưới buộc vào rui của mái nhà. Khau cút không chỉ để giữ cho đầu mái nhà khỏi bị gió lật mà còn có ý nghĩa xã hội cơ bản: dấu hiệu để nhận biết đồng tộc.
Tổ chức xã hội truyền thống
Người Chứt gọi làng là Cà Vên. Mỗi làng thường chỉ có dăm bảy hoặc mười gia đình của một dòng họ cư trú. Đôi khi các gia đình trong một họ lại cư trú ở nhiều làng khác nhau. Đứng đầu mỗi làng là Pừ Cà Vên, người giữ luôn cả vai trò tôn giáo. Gia đình nhỏ phụ quyền là hình thức phổ biến nhất, mỗi gia đình chỉ gồm vợ, chồng và con cái chưa lấy vợ, chồng.
Sinh hoạt tập thể quan trọng nhất trong làng diễn ra vào những dịp lễ tết nông nghiệp. Trẻ em rất thích chơi đu; người Chứt thường làm đu cho trẻ em nhỏ dưới các gốc cây to có bóng mát, treo đu ngay trên các cành cây.
Tập tục thờ cúng của người Chứt
Tổ tiên được thờ tại nhà tộc trưởng. Khi tộc trưởng chết, việc thờ cúng chuyển sang người em trai kế. Khi nào các thế hệ trên không còn ai thì việc thờ cúng mới chuyển sang cho người ở thế hệ dưới.
Người Chứt tin vào các loại ma rừng, ma suối, thổ công, ma bếp, trong đó quan trọng nhất là ma làng. Các nghi lễ nông nghiệp thường được thực hiện gồm lễ xuống giống, lễ sau gieo hạt, lễ cúng hồn lúa, lễ ăn mừng được mùa.
Hôn nhân và sinh đẻ theo tập tục
Trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu yêu đương. Trước khi cưới, nhà trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ cưới được tổ chức bên nhà gái, sau đó mới đón dâu. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Người Chứt không có tục ở rể.
Về sinh đẻ, sắp đến ngày ở cữ, người chồng thường dựng một cái lều nhỏ cho vợ ở ngoài rừng. Thỉnh thoảng anh ta đến thăm nom, tiếp tế lương thực và đồ ăn uống cho vợ. Phụ nữ quen đẻ đứng và tự xoay sở lấy mọi việc. Đẻ xong, người sản phụ tự mình nhóm lửa, đốt nóng một hòn đá cuội để sẵn rồi dội nước lã vào cho bốc hơi nóng để xông khói. Sau 7 ngày, người chồng mới đến đón vợ con vào nhà.
Về ma chay, nhà giàu làm quan tài bằng thân cây khoét rỗng; nhà nghèo chỉ bó người chết bằng vỏ cây.
Văn nghệ và trò chơi dân gian
Người Chứt thích dùng đàn, sáo, hát các giai điệu khác nhau. Họ có nhiều truyện cổ tích, thần thoại, đặc biệt là truyện kể về sự khai thiên lập địa và sinh ra con người. Trong các dịp lễ tết, trẻ em chơi cầu lông làm bằng lông gà, đánh găng; người lớn thổi sáo, hát hò.
Bảng tóm tắt thông tin cơ bản về dân tộc Chứt
| Tiêu chí | Thông tin |
|---|---|
| Tên tự gọi | Chứt |
| Tên gọi khác | Rục, Arem, Sách |
| Nhóm địa phương | Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng |
| Dân số | 7.513 người (Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019) |
| Ngôn ngữ | Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á) |
| Địa bàn cư trú | Quảng Bình |
| Hoạt động sản xuất chính | Nông nghiệp nương rẫy du canh, săn bắn hái lượm |
| Cây trồng chính | Ngô, sắn, đỗ, lúa |
| Tín ngưỡng chính | Thờ tổ tiên, tin vào ma rừng, ma suối, thổ công, ma bếp, ma làng |
| Nghi lễ nông nghiệp | Lễ xuống giống, lễ sau gieo hạt, lễ cúng hồn lúa, lễ ăn mừng được mùa |
Vị trí của dân tộc Chứt trong cộng đồng 54 dân tộc
Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979, dân tộc Chứt là một trong 54 dân tộc được công nhận. Trong danh mục này, dân tộc Chứt đứng thứ 43, có tên gọi khác là Xá La Vàng, Chà Củi (Tắc Củi), Tu Vang, Pa Leng, và các nhóm nhỏ gồm Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem, Xơ-lang, Umo.
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam sinh sống khắp các vùng miền của cả nước nhưng chủ yếu ở các vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Dân tộc Chứt cùng các dân tộc thiểu số khác ở khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tạo nên sự đa dạng văn hoá của vùng đất này.
