Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Kinh (Việt): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Kinh (Việt): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
TL;DR: Dân tộc Kinh (tên gọi khác là Việt) là dân tộc đông dân nhất Việt Nam, chiếm 86,83% dân số toàn quốc theo số liệu điều tra ngày 1/4/2019. Người Kinh nói tiếng Việt, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường trong ngữ hệ Nam Á, có chữ viết riêng. Đặc trưng văn hoá nổi bật là tổ chức làng xã chặt chẽ, nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và hệ thống lễ tết theo âm lịch, lớn nhất là Tết Nguyên đán.

Dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc nào?

Dân tộc Kinh, tên gọi khác là Việt, là dân tộc đông dân nhất trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, người Kinh có 82.085.826 người, chiếm 86,83% dân số toàn quốc. Trong danh sách chính thức của Chính phủ, dân tộc Kinh đứng ở vị trí số 1 với tên gọi Kinh (Việt), tên gọi khác là Việt, địa bàn cư trú ghi là "trong cả nước".

Theo tư liệu của Uỷ ban Dân tộc, tổ tiên người Việt từ rất xa xưa đã định cư chắc chắn ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, người Việt được ghi nhận là trung tâm thu hút và đoàn kết các dân tộc anh em cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người Kinh cư trú ở đâu?

Người Kinh sống ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước, tập trung đông nhất ở các vùng đồng bằng và đô thị. Đây là điểm khác biệt căn bản so với phần lớn các dân tộc thiểu số, vốn sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi, biên giới, vùng sâu vùng xa.

Cách tổ chức cư trú truyền thống của người Kinh là làng. Đại bộ phận người Việt sinh sống thành từng làng, dăm ba làng họp lại thành một xã. Trong làng thường có nhiều xóm, xóm lớn tương đương với thôn. Theo tư liệu dân tộc học, thôn ở Bắc Bộ gần tương tự như một ấp ở Nam Bộ. Trước Cách mạng tháng Tám, mỗi làng có tổ chức hành chính tự quản riêng khá chặt chẽ, với Phe Giáp lo việc quản lý nhân đinh và tế lễ Thành hoàng, còn làng thủ công thì có phường hội của những người cùng nghề.

Một nét đáng chú ý trong quan hệ xã hội truyền thống là sự phân chia dân nội tịch và dân ngoại tịch (ngụ cư), được quy định rõ trong Hương khoán ước của làng. Lệ làng quy định tương đối toàn diện các mặt hoạt động của làng, buộc mọi người thừa nhận và tự giác thực hiện.

Về nhà ở, người Việt thường ở nhà trệt. Khuôn viên thường bố trí liên hoàn nhà, sân, vườn, ao. Nhà chính thường kết cấu ba gian hoặc năm gian, gian giữa là nơi trang trọng nhất đặt bàn thờ gia tiên, các gian bên là nơi sinh hoạt, gian buồng ở chái nhà dành cho phụ nữ và cất trữ lương thực, của cải. Sân vừa để phơi vừa để sinh hoạt, đồng thời tạo không gian thoáng mát phù hợp khí hậu nhiệt đới ẩm.

Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng. Tiếng Việt nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt Mường, thuộc ngữ hệ Nam Á. Đây là thông tin được ghi nhận thống nhất trong các tư liệu về dân tộc Kinh.

Về chữ viết, người Việt từ lâu đã sử dụng chữ Hán, chữ Nôm và ngày nay là chữ Quốc ngữ. Ở kinh thành Thăng Long, từ thời Lý đã lập Văn Miếu, Quốc Tử Giám để đào tạo trí thức bậc cao, được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

Vì sao nông nghiệp lúa nước gắn chặt với người Kinh?

Nông nghiệp lúa nước đã hình thành và phát triển ở người Việt từ rất sớm. Kinh nghiệm làm ruộng được ông cha đúc kết thành câu "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Hệ thống đê điều được xem là minh chứng cho việc chế ngự tự nhiên để sống và sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh trồng lúa, người Việt còn chăn nuôi lợn, gia súc, gia cầm, thả cá. Con trâu trở thành "đầu cơ nghiệp" của nhà nông. Nghề thủ công cũng phát triển mạnh với nhiều làng nghề, đến mức không ít làng thủ công đã tách khỏi nông nghiệp. Chợ làng, chợ phiên, chợ huyện là những điểm sinh hoạt kinh tế sầm uất.

Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Kinh diễn ra thế nào?

Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng quan trọng nhất của người Việt. Bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà và được cúng lễ vào các ngày giỗ, tết cùng các dịp tuần tiết trong năm.

Theo tư liệu của Uỷ ban Dân tộc, có nhiều cách bố trí bàn thờ. Bàn thờ có thể kê trên giường cao, giường cầu hay bàn. Trên bàn thờ có khám (ngai, ỷ hay ảnh), mâm triện (mâm bồng), mâm dài (đài rượu, đài trầu kê trên tam sơn) cùng ngũ sự (đỉnh, hai cây nến, hai cây đèn) hoặc tam sự (đỉnh, hai cây nến), và bát hương. Y môn có thể bằng gỗ hay vải.

Ngoài thờ cúng tổ tiên, tục thờ Thổ công, Táo quân, ông Địa phổ biến ở các nơi. Nhiều gia đình thờ Thành hoàng, chùa thờ Phật, có nơi thờ Đức Khổng Tử hoặc đền thờ phúc thần. Một bộ phận cư dân ở nông thôn và thành thị theo đạo Thiên Chúa, Tin lành và các tôn giáo khác như Cao đài, Hoà hảo.

Mỗi dòng họ thường có nhà thờ tổ riêng. Họ chia thành nhiều chi phái, mỗi chi phái gồm nhiều nhánh, mỗi nhánh gồm các anh em cùng bố mẹ, ông bà. Quan hệ họ nội được truyền giữ bền chắc qua nhiều đời, anh em họ hàng cả nội lẫn ngoại đều giúp đỡ lẫn nhau.

Các lễ tết chính trong năm của người Kinh

Tết Nguyên đán là Tết lớn nhất trong một năm. Sau Tết âm lịch là các hội mùa xuân. Ngoài ra còn nhiều lễ tết truyền thống khác trải dọc năm, mỗi dịp có ý nghĩa riêng và lễ thức tiến hành khác nhau.

Lễ tếtThời điểm (âm lịch)Ghi nhận từ nguồn
Tết Nguyên đánĐầu nămTết lớn nhất trong năm
Rằm tháng GiêngTháng GiêngLễ tết truyền thống
Tết Thanh minhTiết Thanh minhCó tục tảo mộ, cúng lễ
Lễ Hạ điềnMùa vụLễ tết truyền thống
Lễ Thượng điềnMùa vụLễ tết truyền thống
Tết Đoan NgọTháng NămLễ tết truyền thống
Rằm tháng Bảy (Trung nguyên)Tháng BảyLễ tết truyền thống
Tết Trung thuRằm tháng TámLễ tết truyền thống
Lễ cơm mớiSau mùa gặtLễ tết truyền thống

Âm lịch từ lâu đã đi vào đời sống, phong tục tập quán và tín ngưỡng của người Việt. Nhân dân dùng âm lịch để tính tuổi, tính ngày giỗ, tính thời vụ sản xuất và tính ngày tốt xấu cho các việc lớn như làm nhà, cưới hỏi, cải táng. Dương lịch là lịch pháp chính thức hiện nay và ngày càng được dùng rộng rãi.

Cưới xin, ma chay và dựng nhà theo tục lệ

Nghi lễ cưới xin truyền thống của người Việt trải qua mấy bước cơ bản: dạm (nhờ người làm mối đến nhà gái ướm hỏi trước), hỏi (sắp lễ vật sang thưa chuyện chính thức với gia đình và họ hàng nhà gái), cưới (tổ chức lễ trình tổ tiên, ra mắt họ hàng làng xóm, rước dâu về nhà trai), lại mặt (cô dâu chú rể về thăm nhà bố mẹ đẻ). Trước đó, đôi trai gái phải qua đăng ký kết hôn.

Tang ma của người Việt được tổ chức trang nghiêm, thường qua các bước: liệm, nhập quan, đưa đám, hạ huyệt, cúng cơm, cúng tuần "tứ cửu", cúng "bách mật", để tang, giỗ đầu, cải táng. Mỗi độ Thanh minh và mỗi kỳ giỗ tết, các gia đình lại đi đắp lại mộ và tổ chức cúng lễ. Cải táng được ghi nhận là một phong tục rất thiêng liêng của người Việt.

Khi làm nhà, người Việt có câu "Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng nam", vì nhà hướng nam ấm về mùa đông và mát về mùa hè. Ngoài chọn hướng, gia chủ còn xem tuổi và định ngày tháng tốt để khởi công, khi xong thì chọn ngày tốt cúng rước tổ tiên về nhà mới và ăn mừng.

Ăn, mặc và sinh hoạt thường ngày

"Cơm tẻ, nước chè" là đồ ăn, thức uống cơ bản hằng ngày của người Việt. Đồ nếp chỉ gặp trong những ngày lễ tết. Bữa ăn thường có canh rau hoặc canh cua, cá. Người Việt rất ưa dùng các loại mắm (mắm tôm, cá, tép, cáy) và các loại dưa (cải, hành, cà, kiệu). Tương và các gia vị như ớt, tỏi, gừng cũng thường thấy. Rượu dùng trong dịp lễ tết, liên hoan. Ăn trầu, hút thuốc lào trước kia không chỉ là nhu cầu, thói quen mà còn đi vào lễ nghi phong tục.

Về trang phục truyền thống, đàn ông thường mặc quần chân què, áo cánh nâu (Bắc Bộ) hoặc màu đen (Nam Bộ), đi chân đất, ngày lễ tết mặc quần trắng, áo chùng lương đen, đội khăn xếp, đi guốc mộc. Đàn bà mặc váy đen, yếm, áo cánh nâu, chít khăn mỏ quạ đen (Bắc Bộ). Phụ nữ ngày lễ hội mặc áo dài. Mùa đông cả nam và nữ thường mặc thêm áo kép bông.

Về phương tiện vận chuyển, tư liệu dân tộc học phân thành hai loại. Đường bộ có gánh (gánh quang, gánh cặp, đòn gánh, đòn sóc, đòn càn), vác, khiêng, cáng, đội, đeo (bị, tay nải), cõng, thồ và các loại xe như xe đạp, xe kéo, xe đẩy, xe ngựa, xe trâu, xe bò. Đường thuỷ có thuyền, bè, xuồng, tàu với nhiều kiểu dáng, kích cỡ và vật liệu khác nhau.

Người Kinh trong bức tranh 54 dân tộc

Theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979, Việt Nam có 54 dân tộc. Dân tộc Kinh đứng đầu danh mục với tên gọi Kinh (Việt), tên gọi khác là Việt. 53 dân tộc còn lại được gọi là thiểu số, chiếm khoảng 14,6% tổng dân số cả nước theo tư liệu của Báo Nhân Dân.

Cần phân biệt rõ: các tên gọi như Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đen chỉ là các ngành của dân tộc Mông, không phải ba dân tộc riêng. Tương tự, các nhóm như Cao Lan, Sán Chỉ là hai nhóm trong dân tộc Sán Chay. Cách phân loại này giúp tránh nhầm lẫn khi tra cứu danh mục chính thức.

Đồng bào dân tộc thiểu số thường sinh sống thành cộng đồng, đan xen với nhau và với dân tộc Kinh. Một số dân tộc như Khmer, Chăm, Hoa sinh sống tập trung ở vùng đồng bằng và các đô thị Trung Bộ, Nam Bộ. Các dân tộc thiểu số còn lại chủ yếu ở vùng miền núi có địa hình phức tạp, giao thông khó khăn và chịu ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu, thiên tai.

Văn nghệ và trò chơi dân gian

Văn học dân gian người Việt có nhiều thể loại phong phú: truyện cổ tích, ca dao, dân ca, tục ngữ, phản ánh toàn bộ các mặt của đời sống và góp phần lớn vào việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Văn học viết đạt thành tựu ở giai đoạn Lý, Trần và đặc biệt từ thế kỷ XV về sau với các tác gia như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương. Các bộ môn mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu phát triển và được chuyên nghiệp hoá.

Trò chơi dân gian của người Việt rất đa dạng theo lứa tuổi, giới tính, mùa vụ. Có trò mang tính thưởng thức như thả chim, thả diều, cờ tướng. Có trò mang tính thể thao và cộng đồng mạnh mẽ như kéo co, đánh đu, đánh vật, đua thuyền. Nhiều trò mang dấu ấn lịch sử và bản sắc như vật cù, nấu cơm thi, đánh pháo đất. Lễ hội mùa xuân là nơi tập trung nhiều trò chơi dân gian nhất.

Những điểm cần lưu ý khi tra cứu về dân tộc Kinh

Các nguồn tư liệu về dân tộc Kinh có thể chênh lệch nhau về số liệu dân số tuỳ theo thời điểm điều tra. Chẳng hạn, tư liệu của Uỷ ban Dân tộc dẫn số liệu điều tra ngày 1/4/2019 với 82.085.826 người, trong khi một số trang cùng chủ đề dẫn số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 với 73.594.341 người. Cả hai đều ghi tỷ lệ 86,83%, nhưng mốc thời gian khác nhau, nên khi trích dẫn cần nêu rõ năm điều tra.

Một số nguồn cũng có cách viết khác nhau về mốc thời gian của các sự kiện lịch sử liên quan đến người Việt. Người đọc nên đối chiếu nhiều nguồn chính thống và ghi rõ nguồn khi sử dụng số liệu.

Các tập tục được trình bày ở trên là những nét phổ biến, được ghi nhận chung. Trên thực tế, mỗi vùng miền, mỗi dòng họ, mỗi gia đình có thể có những biến thể riêng trong cách bài trí bàn thờ, lễ vật cúng, thời điểm tổ chức. Sự khác biệt giữa các vùng miền là khác biệt về thực hành văn hoá, không phải tiêu chí để đánh giá nơi nào đúng chuẩn hơn nơi nào.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Kinh còn có tên gọi nào khác và chiếm bao nhiêu phần trăm dân số?

Dân tộc Kinh còn được gọi là Việt. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, người Kinh có 82.085.826 người, chiếm 86,83% dân số toàn quốc. Trong danh mục chính thức của Chính phủ, dân tộc Kinh đứng vị trí số 1 với địa bàn cư trú ghi là trong cả nước.

Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, trong ngữ hệ Nam Á. Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng. Về chữ viết, người Việt từ lâu đã sử dụng chữ Hán, chữ Nôm và ngày nay là chữ Quốc ngữ.

Tín ngưỡng quan trọng nhất của người Kinh là gì và các lễ tết chính gồm những dịp nào?

Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng quan trọng nhất của người Việt, bàn thờ đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà và cúng lễ vào ngày giỗ, tết cùng các dịp tuần tiết. Tết Nguyên đán là Tết lớn nhất trong năm. Các lễ tết khác gồm Rằm tháng Giêng, Tết Thanh minh, lễ Hạ điền, lễ Thượng điền, Tết Đoan Ngọ, Rằm tháng Bảy, Tết Trung thu và lễ cơm mới.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Uỷ ban Dân tộc, Cộng đồng 54 dân tộc: Người Kinh
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Báo Nhân Dân, Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcKinh#ngườiViệt#54dântộcViệtNam#thờcúngtổtiên#lễtết