Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Đình làng và tục thờ Thành hoàng: khác biệt giữa Bắc Bộ, Nam Bộ và vùng sông nước miền Tây

Chia sẻ:
Đình làng và tục thờ Thành hoàng: khác biệt giữa Bắc Bộ, Nam Bộ và vùng sông nước miền Tây
TL;DR: Đình làng Bắc Bộ thiên về kiến trúc gỗ chạm khắc cầu kỳ, thờ thành hoàng gắn với lịch sử dựng làng, lễ hội nặng phần tế tự. Đình Nam Bộ và đình vùng sông nước miền Tây thường đơn giản hơn về kết cấu, thờ đa dạng hơn, gồm tiền hiền, hậu hiền, anh hùng liệt sĩ, tiên sư, và lễ hội gắn với nông nghiệp lúa nước như Thượng điền, Kỳ yên. Các nguồn tham khảo hiện có không đề cập đầy đủ cả ba vế, nên phần so sánh dưới đây chỉ nêu những gì có căn cứ.

Đình làng và tục thờ Thành hoàng là gì?

Đình làng là công trình công cộng của làng xã Việt Nam, vừa là nơi thờ thần bảo hộ của làng, vừa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Ở Nam Bộ, thần hoàng được xem như vị thần cai quản và quyết định họa phúc của một làng, thường được thờ ở đình làng; việc thờ nhằm bày tỏ lòng biết ơn, sự tôn kính với các bậc tiền nhân và cầu mong thần che chở, bảo trợ cho đời sống của dân làng (Báo Tin Tức).

Ở Bắc Bộ, đình làng gắn với lịch sử dựng làng lâu đời, nhiều ngôi đình có niên đại từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, 19. Các đình cổ như Tây Đằng, Chu Quyến, đình So, Tường Phiêu, Thụy Phiêu, Hương Canh được xem là những công trình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ truyền thống, với hệ cột lim, mái đao cong, đầu dư chạm rồng (Báo Thanh Niên).

Điểm chung của cả ba vế là tục thờ thần bảo hộ của cộng đồng cư dân. Điểm khác biệt nằm ở cách tổ chức thờ tự, kiến trúc, thành phần thần được thờ, lễ vật và thời điểm lễ hội.

Đình làng Bắc Bộ có gì đặc trưng?

Đình làng Bắc Bộ

Đình làng Bắc Bộ nổi bật ở kiến trúc gỗ chạm khắc cầu kỳ và chiều dài lịch sử. Theo Báo Thanh Niên, các đình cổ đồng bằng Bắc Bộ như Tây Đằng, Chu Quyến (Chàng), đình So, Tường Phiêu, Thụy Phiêu, Hương Canh được dựng nên không chỉ như công trình kiến trúc mà còn như ký ức cộng đồng. Những cây cột lim, mái đao cong, đầu dư chạm rồng vẫn còn lưu lại qua nhiều thế hệ.

Mỗi ngôi đình có thần tích riêng. Đình So gắn với Đức Thánh Tam Lang, Tường Phiêu tôn thờ Tản Viên Sơn Thánh, Hương Canh thờ những vị tiền hiền có công lập làng, Chu Quyến thờ thánh Nhã Nam. Nhìn vào thần phả, thành hoàng làng thường là người mở đất, người trị thủy, người đánh giặc, người dạy dân cày cấy, lập ấp. Thần linh trong đình vì thế không tách rời cuộc sống mà là ký ức được thiêng hóa của cộng đồng (Báo Thanh Niên).

Về kiến trúc, các đình Bắc Bộ thường có hồ nước hoặc khoảng sân rộng trước mặt, bốn bề đón gió, công trình hòa vào cảnh quan làng quê. Đình Tường Phiêu có bố cục hình chữ Nhất, quay mặt về núi Tản; đình Hương Canh có kiến trúc theo kiểu chữ Vương, nổi tiếng với nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ dân gian, chạm trổ tinh vi, phác họa đời sống sinh hoạt của người dân trong xã hội phong kiến xưa (VietnamPlus).

Về lễ hội, Báo Thanh Niên ghi nhận mỗi mùa lễ hội, khi tiếng trống đình vang lên, người dân không chỉ làm lễ tế thành hoàng mà còn kể lại câu chuyện về buổi đầu dựng làng, như cách nhắc con cháu nhớ cội nguồn, tổ tông. Tại Cụm đình Hương Canh, hằng năm dân làng tổ chức lễ hội để tưởng niệm các vị tướng tài trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn Đại Việt (VietnamPlus).

Đình làng Nam Bộ

Đình làng Nam Bộ có thành phần thần được thờ đa dạng hơn so với Bắc Bộ. Theo Báo Tin Tức, ở Nam Bộ, trong mỗi ngôi đình có thể thờ một hoặc nhiều vị thần, tùy theo nhu cầu tâm linh của người dân vùng đó. Do điều kiện lịch sử, ở Nam Bộ chỉ có một số ít nhân vật lịch sử được sắc phong thần hoàng. Phần lớn thần đều là nhân vật vô danh, được thờ với chữ thần (chữ Hán) ở chánh điện.

Nhiều đình ở Nam Bộ thờ những vị có công với nước được dân gian thần hóa, bao gồm:

  • Tiền hiền: những vị có công quy tụ lưu dân khai hoang, biến đồng hoang, rừng rậm, bãi lầy thành ruộng đồng.
  • Hậu hiền: những vị bỏ công, thời gian, tiền bạc để làm hồ sơ, thủ tục xin lập làng, những vị hiến đất để xây dựng đình.
  • Anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong: hầu hết các đình ở Nam Bộ đều thờ các vị này nhằm thể hiện lòng tri ân với những người đã hy sinh trong chiến đấu bảo vệ độc lập của Tổ quốc như Thoại Ngọc Hầu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Hữu Cảnh.
  • Tiên sư: các bậc thầy dạy nghề cho dân làng từ những ngày đầu lập làng.

Bên ngoài sân một số đình Nam Bộ còn thờ thần nông, thần tài, thổ địa, bạch hổ. Một vài đình ở An Giang, Kiên Giang thờ tả ban, hữu ban (hai cánh quân tả hữu hộ vệ cho thần) và Thái giám bạch mã (ngựa thần) (Báo Tin Tức).

Về lễ hội, trong năm tại các ngôi đình Nam Bộ thường có các lễ lớn như Lễ Thượng điền (cúng cảm tạ vụ mùa) và lễ Kỳ yên (cúng cầu an). Lễ Thượng điền xuất phát từ nhu cầu tâm lý gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước. Lễ Kỳ yên còn gọi là lễ vía thần, vừa là lễ hội nông nghiệp để cầu an, cầu mùa, cầu cho quốc thái dân an, phong điều vũ thuận. Các lễ hội cúng thần hoàng ở các đình Nam Bộ thường tổ chức vào tháng 3, tháng 4, tháng 5 âm lịch. Vào các ngày lễ hội, người dân tập trung ở đình để tưởng niệm công đức của các vị thần, đồng thời tổ chức các trò chơi, hát bội, hát cải lương với những tuồng tích xưa (Báo Tin Tức).

Đình làng sông nước miền Tây

Đình làng vùng sông nước miền Tây có những nét riêng về kiến trúc và cách bài trí thờ tự, gắn với địa thế sông rạch. Theo Đại Đoàn Kết, kiến trúc ngôi đình Bình Thủy (Cần Thơ) khác nhiều so với kiến trúc đình miền Bắc. Đình được cất trên một nền cao ráo và có chiều sâu, nhà trước và nhà sau đều là hình vuông nên chiều nào cũng có 6 hàng cột, các chân cột đều choãi ra làm cho đình thêm vững chắc. Nhìn trên nóc đình, nhà trước hai mái chồng lên nhau, nhà chánh điện sau 3 mái chồng lên nhau theo kiểu kiến trúc thượng lầu hạ hiên. Trên nóc đình có gắn tượng thần tiên, hình kỳ lân, hình cá hóa rồng.

Về vị trí, đình Bình Thủy nằm sát khu cư dân phía Bắc, cách bờ sông Hậu khoảng 200m, phía Đông là bờ rạch Bình Thủy, phía Nam sát trục đường giao thông chính. Đình được xây dựng trên khoảnh đất rộng hơn 4.000 m² theo hình chữ Nhất, với 5 gian điện thờ và 2 dãy hành lang nội bộ hai bên (Đại Đoàn Kết).

Về thờ tự, tòa tiền điện đình Bình Thủy thờ các vị anh hùng có công làm rạng rỡ quê hương đất nước như Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Trung Trực, Đinh Công Chánh, ngoài ra còn có bàn thờ ngũ vị Nương Nương và các bàn nghi. Chính điện thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng, đặt chính giữa bức chân dung của vị thần nhân đức. Dọc hai bên chính điện là bàn thờ Hương Chức Tiên Giác, bàn thờ Hậu Hiền. Gian hậu điện có bàn thờ Hậu Thần ở giữa, hai bên là hai bàn thờ Hữu Ban và Tả Ban. Bên ngoài đình có hai miếu lớn thờ thần Nông và thần Hổ, gần cổng có hai miếu thờ thần Rừng và thần Khai kênh dẫn nước (Đại Đoàn Kết).

Về lịch sử, theo truyền khẩu của các bô lão trong làng, khi bão lụt diễn ra liên miên tại làng Long Tuyền, làng đã lập một ngôi đình bằng gỗ, lợp lá tại vàm Bình Hưng vào năm Giáp Thìn (1844), lúc đầu thờ Thành hoàng làng nguyện thần linh làm ăn yên ổn. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), quan khâm sai đại thần Huỳnh Mẫn Đạt trên đường tuần du qua sông Hậu gặp cuồng phong, cho thuyền nấp vào cù lao và được bình an, sau đó dâng sớ lên vua Tự Đức xin ban sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng cho thần Thành hoàng làng Bình Thủy. Ngôi đình hiện tại được xây dựng lại từ năm 1909 (Đại Đoàn Kết).

Về lễ hội, hằng năm nhân dân địa phương tổ chức hai ngày lễ lớn: lễ Thượng điền ở đình Bình Thủy được xem là lễ hội lớn nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, và lễ thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng. Lễ hội diễn ra trong ba ngày 12, 13 và 14 tháng 4 âm lịch, mang đậm tính chất nền văn minh lúa nước cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa (Đại Đoàn Kết).

Bảng so sánh khác biệt chính giữa ba vế

Tiêu chíĐình làng Bắc BộĐình làng Nam BộĐình làng sông nước miền Tây
Kiến trúc đặc trưngGỗ lim, mái đao cong, đầu dư chạm rồng, kiểu chữ Vương hoặc chữ Nhất, có hồ nước hoặc sân rộng trước mặtĐa dạng, nhiều đình có kết cấu đơn giản hơn, thường có hành lang và sân rộngNền cao ráo, nhà trước và nhà sau hình vuông, 6 hàng cột, mái chồng theo kiểu thượng lầu hạ hiên, nóc gắn tượng thần tiên, kỳ lân, cá hóa rồng
Thần được thờThành hoàng làng gắn với thần tích cụ thể, thường là người mở đất, trị thủy, đánh giặc, dạy dân cày cấyThành hoàng, tiền hiền, hậu hiền, anh hùng liệt sĩ, tiên sư, thần nông, thần tài, thổ địa, bạch hổBổn Cảnh Thành Hoàng, các vị anh hùng có công, ngũ vị Nương Nương, Hậu Thần, Tiền hiền, Hậu hiền, thần Nông, thần Hổ, thần Rừng, thần Khai kênh dẫn nước
Lễ vật và lễ hội chínhLễ tế thành hoàng, kể chuyện dựng làng, tưởng niệm các vị tướng tàiLễ Thượng điền (cúng cảm tạ vụ mùa), lễ Kỳ yên (cúng cầu an), hát bội, hát cải lươngLễ Thượng điền, lễ thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng, được xem là lễ hội lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Thời điểm lễ hộiGắn với mùa lễ hội của làng, thường vào mùa xuân hoặc mùa thuThường vào tháng 3, 4, 5 âm lịchBa ngày 12, 13, 14 tháng 4 âm lịch

Vì sao có những khác biệt này?

Các nguồn tham khảo đưa ra một số cách giải thích. Báo Tin Tức cho rằng ở Nam Bộ, khi những lưu dân vào khai khẩn đất đai, họ gặp không ít khó khăn do thiên tai địch họa, thú dữ hoành hành. Việc lập đình để thờ một vị thần nào đó là một biểu tượng tâm linh, theo họ thần có thể giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, giúp cuộc sống thêm ổn định, thịnh vượng. Do điều kiện lịch sử, ở Nam Bộ chỉ có một số ít nhân vật lịch sử được sắc phong thần hoàng, phần lớn thần là nhân vật vô danh.

Đại Đoàn Kết ghi nhận đình Bình Thủy ra đời gắn với bối cảnh bão lụt liên miên tại làng Long Tuyền, dân làng lập đình bằng gỗ, lợp lá để thờ Thành hoàng làng, nguyện thần linh làm ăn yên ổn. Đây là cách giải thích của nguồn này về sự hình thành đình ở vùng sông nước.

Với Bắc Bộ, Báo Thanh Niên nhấn mạnh yếu tố lịch sử dựng làng lâu đời và ký ức cộng đồng được thiêng hóa. Thần linh trong đình không tách rời cuộc sống mà là ký ức được thiêng hóa của cộng đồng, gắn với buổi đầu dựng làng, trị thủy, đánh giặc, dạy dân cày cấy.

Cần lưu ý rằng các nguồn tham khảo hiện có không đề cập đầy đủ và đồng đều cả ba vế. Nguồn về Bắc Bộ chủ yếu tập trung vào kiến trúc và thần tích; nguồn về Nam Bộ tập trung vào thành phần thần và lễ hội; nguồn về đình sông nước miền Tây chủ yếu là trường hợp đình Bình Thủy. Vì vậy, bảng so sánh trên chỉ phản ánh những gì các nguồn đã nêu, không đại diện cho toàn bộ đình làng ở mỗi vùng. Ở một số điểm, các nguồn cũng không thống nhất với nhau về cách phân loại thần và cách gọi tên lễ hội, nên người đọc nên xem đây là các ghi nhận từng trường hợp cụ thể thay vì một quy chuẩn chung.

Tóm lại

Ba vế đình làng Bắc Bộ, Nam Bộ và vùng sông nước miền Tây cùng chia sẻ tục thờ thần bảo hộ cộng đồng, nhưng khác nhau ở kiến trúc, thành phần thần được thờ, lễ vật và thời điểm lễ hội. Sự khác biệt này gắn với điều kiện lịch sử, địa lý và quá trình khai khẩn đất đai của từng vùng. Các nguồn tham khảo hiện có chưa bao quát đầy đủ cả ba vế, nên phần so sánh cần được đọc như những ghi nhận bước đầu từ các trường hợp cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

Đình làng Bắc Bộ và đình làng Nam Bộ khác nhau chủ yếu ở điểm nào?

Theo các nguồn tham khảo, khác biệt chính nằm ở thành phần thần được thờ và kiến trúc. Đình Bắc Bộ thường thờ thành hoàng gắn với thần tích cụ thể như người mở đất, trị thủy, đánh giặc, với kiến trúc gỗ lim, mái đao cong, đầu dư chạm rồng. Đình Nam Bộ thờ đa dạng hơn, gồm tiền hiền, hậu hiền, anh hùng liệt sĩ, tiên sư, thần nông, thần tài, thổ địa, bạch hổ, và do điều kiện lịch sử chỉ có một số ít nhân vật lịch sử được sắc phong thần hoàng.

Lễ hội ở đình làng Nam Bộ và miền Tây diễn ra vào thời gian nào?

Theo Báo Tin Tức, lễ hội cúng thần hoàng ở các đình Nam Bộ thường tổ chức vào tháng 3, 4, 5 âm lịch, với hai lễ lớn là Thượng điền (cúng cảm tạ vụ mùa) và Kỳ yên (cúng cầu an). Riêng đình Bình Thủy ở Cần Thơ, theo Đại Đoàn Kết, lễ hội diễn ra trong ba ngày 12, 13 và 14 tháng 4 âm lịch, gồm lễ Thượng điền và lễ thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng.

Vì sao đình làng Nam Bộ thờ nhiều vị thần hơn đình làng Bắc Bộ?

Báo Tin Tức giải thích rằng ở Nam Bộ, khi lưu dân vào khai khẩn đất đai, họ gặp nhiều khó khăn do thiên tai, địch họa, thú dữ, nên việc lập đình thờ thần là biểu tượng tâm linh cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ổn định. Do điều kiện lịch sử, chỉ một số ít nhân vật lịch sử được sắc phong thần hoàng, phần lớn thần là nhân vật vô danh, và người dân thờ thêm tiền hiền, hậu hiền, anh hùng liệt sĩ, tiên sư cùng các thần nông, thần tài, thổ địa.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. VietnamPlus
  2. Báo Tin Tức
  3. Đại Đoàn Kết
  4. Báo Thanh Niên

Nội dung này có giúp được bạn không?

#đìnhlàng#thànhhoàng#sosánhvùngmiền#vănhóaViệtNam#NamBộ#BắcBộ#miềnTây