Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cờ Lao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Cờ Lao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Ảnh: DFID - UK Department for International Development / flickr (CC BY-SA 2.0)

TL;DR: Cờ Lao là một trong 54 dân tộc Việt Nam, tên tự gọi là Cờ Lao, gồm ba nhóm địa phương Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ, cư trú chủ yếu ở Hà Giang. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, nhưng hiện nay phần lớn người Cờ Lao Đỏ và Cờ Lao Xanh không còn nói được tiếng mẹ đẻ, thường dùng tiếng Quan Hỏa, tiếng Nùng hoặc tiếng Pu Péo, tiếng Mông. Về tín ngưỡng, họ tin mỗi người có ba hồn, lúa và gia súc cũng có hồn, thờ tổ tiên ba tới bốn đời, thờ thần đất và thần Ghi Trếnh bảo vệ trẻ em, ăn Tết Nguyên đán cùng các Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5, 15 tháng 7, mùng 9 tháng 9 âm lịch.

Dân tộc Cờ Lao là ai và tên gọi được ghi nhận như thế nào?

Cờ Lao là tên tự gọi của dân tộc này, đồng thời cũng là tên chính thức trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam. Theo danh mục 54 dân tộc do Nhà nước công bố, dân tộc Cờ Lao có tên gọi khác là Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề, và gồm ba nhóm địa phương: Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ. Cần phân biệt rõ: Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ là các nhóm địa phương trong cùng một dân tộc Cờ Lao, không phải ba dân tộc riêng biệt.

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân tộc Cờ Lao có 4.003 người. Trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 2.636 người. Hai con số này phản ánh hai thời điểm điều tra khác nhau, không phải mâu thuẫn về bản chất.

Về lịch sử, người Cờ Lao chuyển cư tới Việt Nam cách đây khoảng 150 tới 200 năm. Đây là một dân tộc có dân số nhỏ, cư trú tập trung, nên các đặc điểm văn hóa của họ gắn chặt với địa bàn cụ thể hơn là phân tán rộng.

Người Cờ Lao sống ở đâu?

Người Cờ Lao cư trú chủ yếu ở Hà Giang, tập trung thành từng làng khoảng 15 tới 20 nóc nhà. Địa bàn cụ thể gồm hai vùng địa hình khác nhau: vùng núi đất thuộc huyện Hoàng Su Phì và vùng núi đá tai mèo thuộc huyện Đồng Văn. Theo danh mục 54 dân tộc, địa bàn cư trú của dân tộc Cờ Lao được ghi là Hà Giang.

Sự khác biệt về địa hình kéo theo khác biệt về sinh kế. Bộ phận sống ở vùng cao núi đá tai mèo chủ yếu làm nương cày và thổ canh hốc đá, lấy ngô làm cây lương thực chính. Trên nương, họ còn trồng đậu răng ngựa, lúa mạch, đậu Hà Lan, su hào. Bộ phận sống ở vùng núi đất chuyên làm ruộng bậc thang, lấy lúa làm cây lương thực chính.

Về nhà ở, người Cờ Lao làm nhà ba gian hai trái, mái lợp cỏ gianh hoặc các ống vầu, nứa bổ đôi xếp úp ngửa. Riêng người Cờ Lao Đỏ làm nhà trình tường theo cách của người Pu Péo láng giềng.

Nhóm địa phươngĐịa bàn ghi nhậnNét đặc trưng được nguồn nêu
Cờ Lao ĐỏHà GiangLàm nhà trình tường như người Pu Péo; có tục xếp đá quanh mộ, cứ 10 tuổi xếp một vòng đá; cô dâu chỉ ngủ lại nhà chồng đêm hôm đón dâu
Cờ Lao TrắngHà GiangTrước đây mặc thêm áo ngắn tay ngoài áo dài để phô miếng vải đắp trên tay áo trong
Cờ Lao XanhHà GiangChú rể mặc áo dài xanh, cuốn khăn đỏ qua người; lễ làm chay có thể tiến hành ngay hôm chôn hoặc vài năm sau

Tiếng Cờ Lao thuộc nhóm ngôn ngữ nào và tình trạng sử dụng hiện nay ra sao?

Tiếng Cờ Lao thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cùng nhóm với tiếng La Ha, La Chí, Pu Péo, trong ngữ hệ Thái, Ka Đai. Đây là thông tin được ghi nhận thống nhất trong các nguồn tư liệu về dân tộc này.

Điểm đáng chú ý là tình trạng chuyển ngữ đã diễn ra khá sâu. Trước đây các nhóm địa phương Cờ Lao có phương ngữ khác nhau, nhưng hiện nay đa số người Cờ Lao Đỏ và Cờ Lao Xanh không còn nói được tiếng mẹ đẻ của mình nữa. Tùy theo quá trình tiếp xúc và cộng cư, họ quen sử dụng tiếng Quan Hỏa, tiếng Nùng, hoặc tiếng Pu Péo, tiếng Mông.

Về chữ viết và học tập, chữ Hán được sử dụng phổ biến trong việc cúng lễ. Ngày nay, học sinh Cờ Lao cũng như học sinh các dân tộc khác trong cả nước được học tiếng Việt và chữ phổ thông.

Người Cờ Lao thờ cúng những gì?

Người Cờ Lao tin mỗi người có ba hồn. Không chỉ con người, mà lúa, bắp và gia súc cũng đều có hồn. Đây là điểm cần lưu ý khi tìm hiểu hệ thống tín ngưỡng của dân tộc này: quan niệm về hồn không giới hạn ở con người mà mở rộng sang cây trồng và vật nuôi, gắn với đời sống nông nghiệp.

Hồn lúa được phân biệt thành hồn lúa bố, hồn lúa mẹ, hồn lúa vợ và hồn lúa chồng, và được cúng mỗi khi gặt xong, cùng với việc cúng vào dịp Tết mùng 5 tháng 5. Cách phân loại hồn lúa theo vai vế gia đình cho thấy tín ngưỡng nông nghiệp ở đây được tổ chức theo mô hình quan hệ gia đình.

Về thờ tự, tổ tiên được thờ ba hoặc bốn đời. Thần đất là vị thần quan trọng, được cả gia đình và toàn bản thờ cúng. Ngoài ra, trong lễ đặt tên cho trẻ có cúng tổ tiên và cúng thần Ghi Trếnh, vị thần bảo vệ trẻ em. Theo phong tục, bà ngoại là người đặt tên và tặng quà cho cháu.

Cần lưu ý một điểm về cách hiểu: các nguồn tư liệu mô tả đây là các thực hành tín ngưỡng truyền thống của cộng đồng. Việc ghi nhận các thực hành này là ghi nhận văn hóa, không kèm theo khẳng định hay phủ định tính linh nghiệm.

Lễ hội và các dịp Tết của người Cờ Lao gồm những gì?

Người Cờ Lao ăn Tết Nguyên đán, Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5, 15 tháng 7 và mùng 9 tháng 9 âm lịch, giống như nhiều dân tộc ở vùng đông bắc Việt Nam. Đây là hệ thống các mốc lễ tết theo âm lịch, trong đó Tết Nguyên đán là mốc lớn nhất.

Trong các dịp lễ tết này, nghi lễ gắn với hồn lúa có vai trò riêng. Như đã nêu, hồn lúa được cúng mỗi khi gặt xong và cúng vào dịp Tết mùng 5 tháng 5. Như vậy, mùng 5 tháng 5 vừa là một mốc Tết theo âm lịch, vừa là dịp cúng hồn lúa.

Bên cạnh các mốc lễ tết theo lịch, người Cờ Lao còn có các nghi lễ vòng đời gắn với cưới xin, sinh đẻ và tang ma, và các nghi lễ này cũng mang tính cộng đồng, không chỉ mang tính gia đình.

Nghi lễ trong cưới xin có gì đặc biệt?

Tục lệ cưới xin khác nhau giữa các nhóm địa phương Cờ Lao. Chú rể Cờ Lao Xanh mặc áo dài xanh, cuốn khăn đỏ qua người. Cô dâu khi về đến cổng phải dẫm vỡ một cái bát và một cái muôi gỗ đã để sẵn trước cổng. Cô dâu Cờ Lao Đỏ chỉ ngủ lại nhà chồng đêm hôm đón dâu. Nguồn tư liệu cũng ghi nhận rằng cách cưới kéo vợ hay cướp vợ như người Mông vẫn thường xảy ra.

Nghi lễ sinh đẻ và đặt tên diễn ra thế nào?

Người Cờ Lao không có tục chôn hay treo nhau đẻ lên cây, mà thường đem đốt rồi bỏ tro than vào hốc đá trên rừng. Con trai được đặt tên sau 3 ngày 3 đêm, con gái sau 2 ngày 3 đêm. Ở một số nơi, trẻ được đặt tên khi đầy tháng. Trong lễ đặt tên có cúng tổ tiên và thần Ghi Trếnh, và theo phong tục, bà ngoại đặt tên cùng tặng quà cho cháu.

Tang ma có phong tục gì đáng chú ý?

Trong tang lễ, người Cờ Lao có phong tục làm ma hai lần, gồm lễ chôn người chết và lễ làm chay. Ở người Cờ Lao Xanh, lễ làm chay có thể tiến hành ngay hôm chôn hoặc một vài năm sau. Người chết được cúng đưa hồn về Chan San, quê hương xưa. Người Cờ Lao Đỏ có phong tục xếp đá quanh mộ, cứ 10 tuổi lại xếp một vòng đá; các vòng đá tuổi được phủ kín đất, trên cùng lại xếp thêm một vòng đá nữa.

Trang phục và đời sống vật chất của người Cờ Lao có gì đáng chú ý?

Phụ nữ Cờ Lao mặc áo cùng loại với áo người Nùng, Giáy nhưng dài quá gối, áo được trang trí bằng những miếng vải đáp trên hò áo, ngực và tay áo. Trước đây, người Cờ Lao Trắng và Cờ Lao Xanh còn mặc thêm chiếc áo ngắn tay ra ngoài áo dài để phô những miếng vải màu đắp trên tay áo trong, chân cuốn xà cạp. Hiện nay, chiếc áo trong với ống tay dài vẫn còn được sử dụng, còn chiếc áo ngoài với ống tay ngắn trở nên hiếm hơn.

Về ăn uống, tùy nơi, người Cờ Lao ăn ngô chế thành bột mèn mén hoặc ăn cơm, và quen dùng bát, thìa, muôi bằng gỗ.

Về nghề thủ công, nghề truyền thống là đan lát, gồm nong, bồ, phên, cót, và làm đồ gỗ như bàn, hòm, yên ngựa, quan tài, các đồ đựng bằng gỗ. Nhiều làng có thợ rèn sửa chữa nông cụ. Trong canh tác, người Cờ Lao có truyền thống dùng phân chuồng, phân tro và nhiều kinh nghiệm sử dụng phân bón trên nương; phân tro được bón vào từng hốc khi tra ngô.

Về vận chuyển, dùng ngựa để thồ hàng là phương tiện phổ biến. Người Cờ Lao quen dùng địu đan bằng giang có hai quai đeo vai. Hàng ngày họ phải địu nước về nhà; ở vùng núi đất, họ dùng máng lần đưa nước về đến tận nhà hoặc gần nhà.

Quan hệ xã hội và dòng họ của người Cờ Lao được tổ chức ra sao?

Mỗi nhóm Cờ Lao thường có các dòng họ khác nhau. Các họ được nguồn tư liệu ghi nhận gồm: họ Vần, Hồ, Sếnh, Chảo thuộc Cờ Lao Trắng; họ Min, Cáo, Sú Lý thuộc Cờ Lao Đỏ; họ Sáng thuộc Cờ Lao Xanh.

Gia đình nhỏ phụ hệ là hình thức phổ biến. Nếu nhà không có con trai, người ta thường lấy rể về ở rể. Con rể vẫn giữ họ của mình nhưng có quyền thừa kế tài sản nhà vợ, và có bàn thờ tổ tiên mình cùng bàn thờ bố mẹ vợ. Đây là một cách sắp xếp cho thấy quan hệ thừa kế và thờ tự được xử lý linh hoạt khi không có con trai, chứ không đơn thuần theo một khuôn mẫu cố định.

Những điểm cần lưu ý khi tra cứu về dân tộc Cờ Lao

Khi đối chiếu các nguồn, có vài điểm khác biệt cần nhận diện đúng. Thứ nhất, số liệu dân số chênh lệch giữa các lần điều tra: 2.636 người theo Tổng điều tra năm 2009 và 4.003 người theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Đây là hai mốc thời gian khác nhau, không phải hai cách đếm mâu thuẫn.

Thứ hai, tên gọi của các nhóm địa phương và tên gọi khác được ghi nhận thống nhất giữa các nguồn: tên tự gọi là Cờ Lao; tên gọi khác gồm Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề; nhóm địa phương gồm Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ.

Thứ ba, các đặc điểm văn hóa như tục cưới xin, tục tang ma, cách đặt tên đều được nguồn ghi nhận là khác nhau giữa các nhóm địa phương. Vì vậy, không nên gán một tập tục của một nhóm cho toàn bộ dân tộc Cờ Lao. Cách trình bày chính xác là nêu rõ tập tục đó thuộc nhóm nào, ở địa bàn nào, theo ghi nhận của nguồn nào.

Thứ tư, tình trạng không còn nói được tiếng mẹ đẻ ở phần lớn người Cờ Lao Đỏ và Cờ Lao Xanh là một thực tế được ghi nhận, phản ánh quá trình tiếp xúc và cộng cư lâu dài với các dân tộc láng giềng. Đây là hiện tượng chuyển ngữ, không phải sự đánh mất văn hóa theo nghĩa đánh giá. Các thực hành tín ngưỡng, lễ tết và nghi lễ vòng đời vẫn được duy trì song song với việc sử dụng tiếng phổ thông trong đời sống hàng ngày.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Cờ Lao có bao nhiêu người và sống chủ yếu ở đâu?

Theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân tộc Cờ Lao có 4.003 người. Trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 2.636 người. Người Cờ Lao cư trú chủ yếu ở Hà Giang, tập trung ở vùng núi đất huyện Hoàng Su Phì và vùng núi đá tai mèo huyện Đồng Văn, sống thành từng làng khoảng 15 tới 20 nóc nhà.

Tiếng Cờ Lao thuộc nhóm ngôn ngữ nào và hiện nay còn được sử dụng không?

Tiếng Cờ Lao thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cùng nhóm với tiếng La Ha, La Chí, Pu Péo, trong ngữ hệ Thái, Ka Đai. Trước đây các nhóm địa phương có phương ngữ khác nhau, nhưng hiện nay đa số người Cờ Lao Đỏ và Cờ Lao Xanh không còn nói được tiếng mẹ đẻ, mà quen sử dụng tiếng Quan Hỏa, tiếng Nùng hoặc tiếng Pu Péo, tiếng Mông tùy theo quá trình tiếp xúc và cộng cư.

Người Cờ Lao thờ cúng những gì và ăn những Tết nào trong năm?

Người Cờ Lao tin mỗi người có ba hồn, và lúa, bắp, gia súc cũng đều có hồn; hồn lúa được cúng mỗi khi gặt xong và vào dịp Tết mùng 5 tháng 5. Tổ tiên được thờ ba hoặc bốn đời, thần đất là vị thần quan trọng được gia đình và toàn bản thờ cúng, ngoài ra còn có thần Ghi Trếnh bảo vệ trẻ em. Người Cờ Lao ăn Tết Nguyên đán, Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5, 15 tháng 7 và mùng 9 tháng 9 âm lịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc (cema.gov.vn): Người Cờ Lao
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Báo Tin tức, Dân tộc miền núi: Dân tộc Cờ Lao
  4. Báo Nhân Dân: Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcCờLao#54dântộcViệtNam#HàGiang#nhómngônngữKaĐai#tínngưỡngthờcúng