Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Thờ cúng tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên của người Việt: nguồn gốc, chuẩn mực và những gì đã đổi

Chia sẻ:
Thờ cúng tổ tiên của người Việt: nguồn gốc, chuẩn mực và những gì đã đổi

Ảnh: Donald Trung / wikimedia (CC BY-SA 4.0)

TL;DR: Thờ cúng tổ tiên là phong tục lâu đời của người Việt, thể hiện lòng hiếu thảo và đạo lý uống nước nhớ nguồn, đồng thời là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người. Bàn thờ thường đặt ở vị trí trang trọng nhất trong nhà, gắn với các nghi lễ như giỗ, sóc vọng, lễ Tết và các biến cố quan trọng của gia đình. Qua nhiều thế kỷ, cung cách và quan niệm có thay đổi nhưng ý nghĩa cốt lõi là lòng biết ơn và sự kết nối giữa các thế hệ vẫn được giữ nguyên.

Thờ cúng tổ tiên là gì và vì sao nó ăn sâu vào người Việt?

Thờ cúng tổ tiên là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm thể hiện tấm lòng thành kính, đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho con cháu. Từ lâu, thờ cúng tổ tiên ông bà đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người, đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam.

Điều đáng chú ý là phong tục này không đòi hỏi mâm cao cỗ đầy. Chỉ cần thắp nén hương thơm lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, Tết, hay ngày giỗ, con cháu trong gia đình cũng thể hiện được tấm lòng thành kính, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người thân đã khuất. Nói cách khác, cốt lõi của thờ cúng tổ tiên nằm ở thái độ và sự tưởng nhớ, không nằm ở quy mô lễ vật.

Bàn thờ gia tiên được bài trí và đặt ở đâu?

Bàn thờ là nơi thanh tịnh, thiêng liêng nhất trong ngôi nhà, thể hiện sâu sắc niềm tin tâm linh của người Việt; lòng hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ; là sự tưởng nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục của các bậc tiền nhân. Là nơi ngự vị của các bậc tiền nhân trong gia đình, bàn thờ thường được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất trong nhà.

Cấu trúc cơ bản của bàn thờ gồm: chính giữa là bát hương tượng trưng cho vũ trụ, trên bát hương có cây trụ để cắm hương vòng; ở hai góc ngoài của bàn thờ bao giờ cũng có hai cây đèn (hoặc nến) tượng trưng cho Mặt Trời ở bên trái và Mặt Trăng ở bên phải. Mỗi khi cúng, lễ gia chủ sẽ thắp đèn (đốt nến). Ngay sau bát hương thường có một cái đỉnh ba chân, nắp đỉnh được vẽ hình con lân với ý nghĩa sức mạnh bề trên kiểm soát tinh thần con cháu khi đứng trước bàn thờ.

Trước đây, với những nhà có điều kiện, đồ thờ được sơn son thếp vàng; có đủ thần chủ bốn đời để thờ, đó là cao, tằng, tổ, khảo. Thần chủ làm bằng gỗ táo, trên đó đề tên, họ, chức tước, ngày tháng sinh tử của tổ tiên.

Về hướng bàn thờ, người Việt cũng rất quan tâm. Thông thường hướng nhà theo đạo Phật hướng Nam là nơi của bát nhã, tức trí tuệ, hướng của sự sáng tạo, của sinh lực tràn trề, đầy dương khí. Bên cạnh đó, cũng có nhiều nhà đặt bàn thờ hướng Tây vì quan niệm hướng này hợp với sự đối đãi của âm dương, nên yên ổn và phát triển, thần linh, tổ tiên được an tọa. Cần lưu ý rằng đây là các quan niệm dân gian lưu truyền, không có một chuẩn duy nhất bắt buộc cho mọi gia đình.

Những dịp nào người Việt thắp hương tổ tiên?

Vào ngày giỗ chạp hoặc các ngày sóc, vọng, lễ, Tết, việc hương khói bàn thờ được chăm chút đều đặn. Những khi trong nhà có việc trọng đại như dựng vợ, gả chồng cho con, làm nhà, thi cử, người Việt cũng đều thành tâm thắp nén hương thơm để khấn báo với tổ tiên và cầu mong tổ tiên phù hộ cho mọi việc thuận buồm xuôi gió.

Có thể nói, mọi biến cố trong gia đình đều được gia chủ báo cáo với gia tiên. Không gian xung quanh nơi đặt bàn thờ sẽ là nơi con cháu trò chuyện, do đó khu thờ tự còn là nơi kết nối tình cảm gia đình.

Bảng dưới đây tóm tắt các dịp thờ cúng tổ tiên phổ biến và ý nghĩa chính:

DịpThời điểmÝ nghĩa chính
Ngày giỗ (kỵ nhật)Đúng ngày mất âm lịch của người quá cốTưởng nhớ trực tiếp người đã khuất, con cháu sum họp
Sóc, vọngNgày 1 và ngày 15 âm lịch hằng thángDuy trì hương khói đều đặn, giữ sự kết nối thường xuyên
Lễ, TếtTết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng và các tiết lễ khácKính cáo tổ tiên, cầu an khang, thịnh vượng
Việc trọng đạiCưới hỏi, làm nhà, thi cửKhấn báo và cầu mong tổ tiên phù hộ
Giỗ họTheo lịch của dòng tộcThờ vị Thủy tổ, con cháu trong họ cùng góp giỗ

Giỗ họ và từ đường khác gì với giỗ tại gia?

Ngoài ngày giỗ tổ tiên tại gia, người Việt còn có ngày giỗ họ. Đối với Việt Nam, quan hệ huyết thống khá phức tạp. Gia đình chỉ là một đơn vị độc lập tương đối bởi giữa các gia đình trên một phạm vi nào đó lại tồn tại một quan hệ ràng buộc mà người ta gọi là họ hàng, dòng tộc.

Mỗi họ có một ông Tổ chung và đều có một cuốn gia phả ghi chép họ tên, chức tước, ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong họ theo thứ tự để mọi người vấn tổ tầm tông. Con cháu trong họ sẽ lập Từ đường để thờ vị Thủy tổ. Trưởng tộc là người được hưởng hương hoả của tổ tiên nên có trách nhiệm phải lo việc làm giỗ họ. Trong ngày giỗ họ, con cháu đều phải góp giỗ.

Như vậy, giỗ tại gia hướng tới các bậc tiền nhân trực hệ trong phạm vi gia đình, còn giỗ họ và từ đường mở rộng ra phạm vi dòng tộc với vị Thủy tổ chung. Hai cấp độ này bổ sung cho nhau, tạo nên mạng lưới thờ cúng nhiều tầng của người Việt.

Thờ cúng tổ tiên giáo dục những giá trị đạo đức nào?

Phần lớn người Việt Nam đều thừa nhận rằng thờ cúng tổ tiên đóng vai trò quan trọng trong việc tu dưỡng và giáo dục các phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp cho các thành viên trong gia đình. Kết quả nghiên cứu khảo sát của tác giả năm 2015 cho thấy có tới 87,9% khách thể trả lời phiếu tin rằng việc duy trì phong tục thờ cúng tổ tiên tại nơi gia đình sinh sống góp phần giáo dục truyền thống đạo đức gia đình của họ, trong khi số người trả lời không tin vào giá trị này chỉ chiếm tỉ lệ 0,4%.

Những người tin rằng thờ cúng tổ tiên có vai trò giáo dục truyền thống đạo đức gia đình cũng cho rằng thông qua việc thờ cúng tổ tiên giúp bản thân và các thành viên trong gia đình tu dưỡng nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp, như: lòng biết ơn, sự hiếu thảo, lòng nhân ái, đức hy sinh, tinh thần cầu tiến, tính cần cù, siêng năng, chăm chỉ. Tác động lớn nhất của thờ cúng tổ tiên đến sự hình thành đạo đức con người Việt Nam là lòng biết ơn, sự hiếu thảo đối với các thế hệ tổ tiên, ông bà, cha mẹ.

Tác giả Nguyễn Hạnh, trong cuốn Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã viết: “Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, đỉnh cao của vũ trụ quan là Đạo Thờ Trời, đỉnh cao của nhân sinh quan là Đạo Làm Người, trong đó Đạo Hiếu đứng hàng đầu. Cả vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt đều bắt đầu bằng chữ ÂN/ƠN”. Lòng biết ơn thể hiện đặc biệt sâu sắc qua thờ cúng tổ tiên. Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng này chính là lòng biết ơn đối với sự sinh thành, dưỡng dục, yêu thương, chăm sóc, sự che chở của ông bà, cha mẹ và các thế hệ trước đối với thế hệ sau.

Con cháu thể hiện lòng biết ơn của mình đối với tổ tiên không chỉ ở sự tôn kính, sự quan tâm, chăm sóc cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ khi họ còn sống mà cả còn phải phụng thờ khi họ đã mất.

Vì sao nói gương của người lớn quan trọng hơn lời dạy?

Thái độ, hành vi kính cẩn của người lớn trong gia đình đối với tổ tiên có ý nghĩa rất lớn đối với việc giáo dục lòng hiếu thảo cho các thành viên trong gia đình, nhất là cho trẻ em. Điều này được rút ra từ việc phỏng vấn sâu 27 người trưởng thành (từ 25 tuổi đến 87 tuổi) ở 3 tỉnh, thành Bắc Ninh, Hà NộiNinh Bình.

Một trong số người được phỏng vấn cho rằng: “muốn giáo dục lòng hiếu thảo cho trẻ em con cháu trong nhà thì cha mẹ phải là tấm gương sáng về lòng hiếu thảo. Các bậc cha mẹ phải thể hiện sự nhớ thương, thờ cúng tử tế cho ông bà, tổ tiên, luôn nhắc nhở đến công lao của tổ tiên đối với gia đình khi họ còn sống. Con cái thấy hành động của cha mẹ như vậy thì nhất định sẽ kính trọng cha mẹ mà ngoan ngoãn, đối xử tốt với cha mẹ. Cha mẹ mà không đối xử tốt với các bậc sinh thành, bỏ bê thờ cúng, trẻ sẽ không coi trọng cha mẹ cũng như không coi trọng việc thờ cúng cha mẹ sau này khi cha mẹ đã về với tổ tiên”.

Như vậy có thể thấy người dân ý thức rất rõ việc thờ cúng tổ tiên là một biện pháp giáo dục lòng hiếu thảo một cách trực tiếp và hữu hiệu. Qua hoạt động thờ cúng tổ tiên trong gia đình, truyền thống biết ơn, uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây của gia đình Việt Nam, của dân tộc Việt Nam sẽ được bảo tồn và tiếp tục lưu truyền mãi mãi cho dù quy mô, hình thức, cấu trúc gia đình Việt Nam có thể thay đổi do sự tác động của các yếu tố khách quan.

Bàn thờ ngày Tết có gì đặc biệt?

Tết là dịp sum họp gia đình và người thân, là dịp để người Việt tỏ lòng thành kính với tổ tiên, hằng mong các vị tiền nhân cùng con cháu đón một mùa Xuân mới an khang, thịnh vượng. Bởi thế, người Việt dù có đi đâu làm gì thì ngày Tết cũng sẽ trở về quê cha đất tổ, thắp nén nhang thơm lên bàn thờ gia tiên, kính cáo các bậc tiền nhân.

Theo quan niệm truyền thống của người Việt, con người có tổ có tông, như cây có cội, như sông có nguồn. Bàn thờ gia tiên được giữ sạch sẽ để tỏ lòng hiếu kính của con cháu, việc lau dọn bàn thờ luôn được thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ. Với công việc này thì người nông thôn thực hiện sớm hơn người thành thị. Trước rằm tháng chạp (15 tháng 12 âm), nhà nhà đã bắt đầu quét dọn gian thờ, đánh bóng các đồ thờ tự như lư hương, đỉnh đồng, chân nến và bày biện để chuẩn bị tiễn ông Công ông Táo (thần bếp) lên chầu trời. Đối với người thành thị, ngày 23 tháng Chạp, sau lễ cúng ông Công, ông Táo thì công việc dọn dẹp, trang hoàng bàn thờ mới được thực hiện. Gia chủ quan niệm rằng đây là thời điểm thần linh đi vắng, nên tranh thủ sửa sang nơi thờ tự đón Tết, làm sao để đến đêm 30 Tết, khi các vị thần linh trở về thì mọi việc đã hoàn tất đẹp đẽ.

Hương dùng để thắp trên bàn thờ ngày Tết, hoặc dùng hương vòng, hoặc hương nén. Có nơi người ta dùng cây hương sào lớn, mục đích là để hương cháy lâu, duy trì liên tục trong các ngày Tết. Hoa trên bàn thờ thì có hoa cắm bình và hoa bày trên đĩa. Đối với bàn thờ ngày Tết, người ta thường duy trì cả hai loại này. Ngoài ra, để mang đậm không khí Tết cổ truyền, thường có một cành đào, hoặc một cành mai trong lọ sứ lớn. Các loại hoa được chọn để lên bàn thờ thường là các loại hoa có mùi hương thơm như hoa huệ, hoa ly, hoa hồng, hoa cúc.

Mâm ngũ quả là phần không thể thiếu trên bàn thờ ngày Tết, với ý nghĩa tượng trưng cho số 5, đại diện cho ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, đại diện cho ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Người ta sẽ chọn 5 loại trái cây có bố cục và màu sắc hợp lý để bày biện cho đẹp mắt. Thông thường ngũ quả gồm 5 loại quả có 5 màu khác nhau như chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam tượng trưng cho mong ước: phú (giàu có), quý (sang trọng), thọ (sống lâu), khang (khỏe mạnh), ninh (bình yên).

Theo phong tục cổ truyền của người Việt thì bánh chưng, bánh dày là hai thứ tượng trưng cho Trời, Đất, nó cũng là thứ bánh làm bằng lương thực, tượng trưng cho sự no ấm, thịnh vượng, là lễ vật không thể thiếu. Khi bày lễ, chú ý bày bánh theo cặp cho trọn vẹn quan hệ phu phụ thuận hòa. Ngoài các lễ vật trên, còn có thêm đĩa trầu cau, chén nước, và các loại bánh trái, vật thực khác. Cành đào được cắm trên bàn thờ có huyền lực trừ ma tà và mọi xấu xa, màu đỏ chứa một sinh khí lớn lao. Vì thế hoa đào thắm là lời cầu nguyện và lời chúc phúc đầu Xuân. Cây mía được đặt ở bên bàn thờ với ngụ ý để các cụ chống gậy về vui với con cháu.

Lễ gia tiên trong cưới hỏi và các nghi lễ vòng đời

Trong lễ cưới, khi con dâu mới, hoặc con rể mới đến nhập gia, đều phải đến trước bàn thờ làm lễ gia tiên để ra mắt tổ tiên. Lễ gia tiên là một thủ tục bắt buộc phải có trong những đám cưới gả của hầu hết mọi gia đình. Sở dĩ có những hành động đó bởi người Việt luôn có niềm tin rằng giữa người sống và người đã mất có một sợi dây liên kết mật thiết với nhau và hỗ trợ nhau.

Con cháu thì giữ gìn đạo đức, kính cẩn thờ cúng khấn báo tiền nhân. Tổ tiên lại chở che, dẫn dắt hậu thế, nên việc cúng giỗ là giây phút giao hòa giữa âm với dương một cách linh thiêng màu nhiệm. Đây là cách diễn giải mang tính tín ngưỡng dân gian, không phải khẳng định khoa học, nhưng nó phản ánh đúng tâm thức của người Việt qua nhiều thế hệ.

Những gì đã đổi và những gì còn nguyên?

Đã bao thế kỷ trôi qua, cung cách và quan niệm thờ phụng tổ tiên của người Việt Nam xét theo góc độ nào đó đã có nhiều thay đổi nhưng ý nghĩa lớn nhất vẫn giữ nguyên. Người Việt Nam coi việc thờ phụng tổ tiên là một trong những nguyên tắc đạo đức làm người. Đó là hình thức thể hiện sự hiếu thuận và lòng biết ơn của con cháu đối với các bậc sinh thành.

Nhìn vào những thay đổi có thể thấy vài điểm rõ nét. Thứ nhất, không gian thờ cúng ở đô thị thường thu hẹp hơn so với nông thôn, bàn thờ được bố trí gọn trong nhà phố hoặc căn hộ. Thứ hai, nhịp sống công nghiệp khiến việc hương khói hằng ngày có thể thưa hơn, nhường chỗ cho các dịp giỗ, sóc vọng và Tết. Thứ ba, hình thức vật chất của đồ thờ đa dạng hơn, từ đồ sơn son thếp vàng truyền thống đến các sản phẩm hiện đại. Tuy vậy, lớp nghĩa cốt lõi là lòng biết ơn, sự hiếu thảo và kết nối giữa các thế hệ vẫn là điểm neo giữ phong tục này qua thời gian.

Một điểm cần nói rõ về tính thống nhất trong cách hiểu: các nguồn tư liệu dân gian và nghiên cứu đều nhấn mạnh thờ cúng tổ tiên là phong tục lâu đời, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người, đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết như hướng bàn thờ, số đời thờ, hay cách bài trí ngày Tết, các vùng miền và dòng họ có thể có quy ước riêng. Bài viết này trình bày theo cách hiểu phổ biến được ghi nhận trong các tư liệu tham khảo, và người đọc nên xem đó là khung tham chiếu chứ không phải quy định cứng cho mọi gia đình.

Tổng kết

Thờ cúng tổ tiên của người Việt là một phong tục có bề dày, vận hành ở nhiều tầng: từ bàn thờ trong mỗi gia đình, đến giỗ họ và từ đường của dòng tộc, đến các nghi lễ vòng đời như cưới hỏi và các dịp Tết. Nó vừa là nghi lễ, vừa là cơ chế giáo dục đạo đức, vừa là sợi dây kết nối tình cảm gia đình. Dù cung cách và quan niệm có thay đổi qua thời gian, ý nghĩa lớn nhất là lòng biết ơn và sự hiếu thảo vẫn giữ nguyên, và đó là lý do phong tục này tiếp tục được duy trì trong đời sống đương đại.

Câu hỏi thường gặp

Thờ cúng tổ tiên có bắt buộc phải mâm cao cỗ đầy không?

Không. Theo tư liệu về phong tục, không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy, chỉ cần thắp nén hương thơm lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, Tết, hay ngày giỗ, con cháu trong gia đình cũng thể hiện được tấm lòng thành kính, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người thân đã khuất.

Bàn thờ tổ tiên thường được đặt ở đâu và bài trí thế nào?

Bàn thờ thường được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất trong nhà, là nơi thanh tịnh và thiêng liêng nhất. Chính giữa là bát hương tượng trưng cho vũ trụ; hai góc ngoài có hai cây đèn hoặc nến tượng trưng cho Mặt Trời bên trái và Mặt Trăng bên phải; sau bát hương thường có đỉnh ba chân. Với nhà có điều kiện, đồ thờ được sơn son thếp vàng và có đủ thần chủ bốn đời là cao, tằng, tổ, khảo.

Vì sao nói thờ cúng tổ tiên giáo dục đạo đức gia đình?

Khảo sát năm 2015 cho thấy 87,9% người trả lời tin rằng duy trì phong tục thờ cúng tổ tiên góp phần giáo dục truyền thống đạo đức gia đình, trong khi chỉ 0,4% không tin vào giá trị này. Thông qua thờ cúng, các thành viên tu dưỡng lòng biết ơn, sự hiếu thảo, lòng nhân ái, đức hy sinh, tinh thần cầu tiến và tính cần cù. Thái độ kính cẩn của người lớn trước bàn thờ cũng là tấm gương trực tiếp giáo dục lòng hiếu thảo cho trẻ em.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. VietnamPlus: Ý nghĩa thiêng liêng của bàn thờ gia tiên trong gia đình người Việt
  2. VietnamPlus: Tục thờ cúng tổ tiên là bản sắc văn hóa của người Việt Nam
  3. Cục Gia đình (Bộ VHTTDL): Thờ cúng tổ tiên giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống của gia đình, dân tộc
#thờcúngtổtiên#bànthờgiatiên#vănhóaViệtNam#đạohiếu#ngàygiỗ#TếtNguyênđán