Dân tộc Lự là ai và có nguồn gốc từ đâu?
Người Lự là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam, có tên tự gọi là Lừ, Thay hoặc Thay Lừ. Các tên gọi khác từng được ghi nhận gồm Phù Lừ, Nhuồn và Duồn. Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, dân tộc Lự có tên gọi khác là Lừ, Duôn, Nhuồn và địa bàn cư trú được ghi nhận tại Lai Châu.
Theo tư liệu của Trung tâm Thông tin và Truyền thông, Ủy ban Dân tộc, người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Điện Biên) ít nhất là trước thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn, còn gọi là Tam Vạn, và khai khẩn nhiều ruộng đồng. Vào thời kỳ chiến tranh, người Lự phải phân tán đi nhiều nơi, một bộ phận nhỏ di chuyển lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ và Sìn Hồ.
Về nhóm địa phương, ở Việt Nam hiện chỉ ghi nhận nhóm Lự Đen (Lừ Đăm) sinh sống ở xã Bản Hon, huyện Phong Thổ và Sìn Hồ thuộc Lai Châu. Nhóm Lự Trắng (Lừ Khao) được ghi nhận ở Síp Song Păn Na, Trung Quốc. Đây là điểm cần phân biệt rõ: Lự Đen và Lự Trắng là các nhóm địa phương của cùng một dân tộc, không phải hai dân tộc khác nhau.
Dân số và địa bàn cư trú hiện nay
Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019 do Trung tâm Thông tin và Truyền thông, Ủy ban Dân tộc công bố, dân số người Lự là 6.757 người. Trước đó, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, con số này là 5.601 người.
Người Lự cư trú ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ và Điện Biên thuộc tỉnh Lai Châu. Đây là khu vực miền núi phía bắc, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn. Trong bối cảnh chung của các dân tộc thiểu số Việt Nam, đây cũng là vùng có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp hơn so với mặt bằng chung cả nước.
Tiếng nói của người Lự thuộc ngữ hệ nào?
Tiếng nói của người Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Đây là nhóm ngôn ngữ có mặt ở nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á lục địa và miền nam Trung Quốc, bao gồm các dân tộc như Tày, Thái, Nùng, Sán Chay và một số dân tộc khác.
Về chữ viết, người Lự có sử dụng chữ theo mẫu tự Pali. Người ta lấy gai hoặc que sắt nhọn làm bút để viết trên lá cọ rừng, ghi lại nhiều loại truyện thần thoại và cổ tích. Cũng có thể dùng vỏ cây guột khô, vót nhọn, chấm mực tàu và viết trên miếng vải trắng. Trước kia, trẻ em từ 7 đến 8 tuổi có tập quán đến học chữ với ông chẩu hua, nghĩa là sư.
Lịch riêng và cách tính thời gian
Người Lự có lịch riêng, trong đó tháng giêng theo lịch Lự tương đương với tháng 10 âm lịch. Đây là điểm cần lưu ý khi tìm hiểu các nghi lễ và tập tục của người Lự, bởi nhiều sự kiện như thờ cúng tổ tiên hay lễ cúng bản đều được tính theo lịch này.
Người Lự sinh sống và sản xuất như thế nào?
Người Lự sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thủy nhập điền. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác và phân chuồng để bón ruộng. Họ cũng làm nương theo phương thức phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày, kỹ thuật cày được tiếp thu từ người Mông.
Nghề dệt phát triển, đặc biệt là dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng. Hái lượm, săn bắt, đặc biệt là đánh cá ở suối, là những hoạt động thường xuyên.
Về ăn uống, người Lự ăn xôi và ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ được mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán. Về phương tiện vận chuyển, họ dùng gùi, trâu kéo và ngựa thồ.
Nhà ở và không gian sinh hoạt
Người Lự ở nhà sàn bốn mái, mái kéo dài che làm hiên sàn, nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm, bếp đặt ở giữa nhà. Không gian nhà sàn không chỉ là nơi ở mà còn là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng, bao gồm thờ cúng tổ tiên và lễ lên nhà mới.
Trang phục truyền thống của người Lự có gì đặc biệt?
Phụ nữ Lự dùng vải đen chàm để làm màu nền cho váy, áo, khăn và kiêng màu trắng. Họ thêu các mảng viền hoa văn quả trám ngang, dọc tạo thành váy hai tầng. Áo có đeo các vòng bạc ở ngực, mặc theo kiểu chéo vạt cài dải ở bên hông trái. Nữ mặc áo chàm xẻ ngực, váy bằng vải chàm đen có thêu dệt thành hai phần trang trí, tạo cảm giác như váy có hai tầng ghép lại. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Đầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Họ nhuộm răng đen và đeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng.
Nam giới mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng và cũng thích nhuộm răng đen. Đàn ông thường đeo gươm, không chỉ để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.
Tập tục thờ cúng của người Lự diễn ra như thế nào?
Người Lự thờ cúng tổ tiên ở gian hóng trong nhà, mỗi năm một lần vào tháng giêng theo lịch Lự, tương đương với tháng 10 âm lịch. Trong nghi lễ này, họ thắp thêm 10 ngọn nến sáp ong ở quanh mâm cỗ. Ông chủ đầu, còn gọi là chảu hô, đọc bài cúng.
Vào tháng giêng, người Lự có lễ cúng bản gọi là kiêng bản, hay căm bản, với mâm cỗ 3 yến lợn. Lễ được cúng dựng ở đầu bản và cạnh sông, suối. Vào tháng 3 mồng 3, họ có lễ cúng ở khu rừng thiêng, gọi là đóng căm, với mâm cỗ 3 yến lợn. Đến tháng 6 mồng 6, lễ cúng được tổ chức với mâm cỗ 6 yến lợn.
Sau khi chủ đầu làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi. Trong thời gian này, người Lự kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày, gọi chung là kiêng bản kiêng mường.
Nghi lễ trong chu kỳ đời người
Bên cạnh các lễ cúng theo mùa, người Lự còn có nhiều nghi lễ gắn với vòng đời. Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Họ mổ một trâu đen, kiêng trâu trắng, để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Thi thể được quàn ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ khiêng ra rừng ma. Người Lự chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất.
Khi làm nhà mới, người Lự kiêng không làm lễ lên nhà mới vào giữa trưa. Sau khi quét sạch nhà, họ mời 4 cụ già ngoài họ đến uống rượu quanh một cái chậu có 4 chén rượu đặt ở giữa nhà. Một chàng trai trẻ đến bên cửa ra vào, ngồi xổm và cất tiếng xin mua nhà, các cụ đang uống rượu đáp rằng chủ nhà sắp đến nhận. Vợ chồng chủ nhà đã đứng sẵn ở chân cầu thang, chồng mang một cái chài trên vai, vợ gánh một bên là kiềng và một bên là chõ xôi. Chồng đi trước, vợ theo sau leo lên cầu thang và đặt đồ vào nhà. Tiếp theo, hai thiếu nữ thắp hai bó đuốc bước lên nhà. Một cô khác ở đầu cầu thang cầm ống nước để dập tắt lửa cháy ở bó đuốc đi đầu. Người thứ hai cầm bó đuốc vẫn cháy sáng, đưa đến nhóm lửa ở bếp. Ngọn lửa phải được giữ cho cháy suốt 3 ngày 3 đêm. Chủ nhà làm lễ thờ tổ tiên bằng cỗ đầu lợn, dân bản được mời ăn cỗ uống rượu và cùng hát theo điệu sáo đôi.
Về sinh đẻ, khi trẻ đầy tháng, gia đình nhờ ông máy đem bút vót bằng cây guột, một mảnh vải trắng và đĩa mực tàu đến bói và tìm tên cho trẻ nhỏ. Ông đặt trứng gà lên bát gạo, gieo hạt gạo lên trông trứng để xem chẵn, lẻ. Nếu ứng đúng như ông xướng thì lấy tên đó đặt cho trẻ, ghi tên vào mảnh vải rồi trao lại cho bố mẹ giữ làm khai sinh. Nữ thường có tên là Kẻo, nghĩa là Ngọc, và nam thường có tên là Khăm, nghĩa là Vàng.
Lễ hội và các nghi lễ bun của người Lự là gì?
Cách thời điểm hiện tại khoảng 3 thế hệ, tức khoảng 60 đến 70 năm, người Lự còn thực hiện những nghi lễ Phật giáo gọi là bun. Các nghi lễ này bao gồm lễ mừng năm mới, gọi là bun pi mày, vào tháng giêng; lễ té nước, gọi là bun huất nặm, vào tháng 11 và tháng 12; và lễ thả ống pháo sáng, gọi là bun bẳng phay, vào tháng 2 và tháng 3 theo âm lịch Lự.
Đây là những nghi lễ mang ảnh hưởng Phật giáo, phản ánh sự giao lưu văn hóa giữa người Lự với các cộng đồng lân cận trong khu vực. Tư liệu hiện có ghi nhận các nghi lễ này từng được thực hiện trong quá khứ, cách nay khoảng 60 đến 70 năm, chứ không khẳng định chúng vẫn được duy trì nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Hát Lự và các trò chơi dân gian
Hát Lự, còn gọi là Khắp Lử, là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt và hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Theo lối hát này, gọi là ỉn khống, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân, say sưa hát và thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.
Người Lự có các trò chơi kéo co và ném én. Nam thanh niên thích múa gươm. Đây là những hoạt động thường xuất hiện trong các dịp lễ hội và sinh hoạt cộng đồng.
Hôn nhân và quan hệ xã hội của người Lự có gì đáng chú ý?
Quan hệ láng giềng là quan hệ chủ đạo trong xã hội người Lự. Họ theo tập quán tương trợ giữa các gia đình trong lao động sản xuất, khi làm nhà mới, cưới xin và ma chay. Hai họ Pu Da, tức họ nội, và Ta Nai, tức họ ngoại, là hai họ quan trọng nhất.
Về hôn nhân, người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều, thể hiện qua câu tục ngữ dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ. Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục, đôi vợ chồng ở rể 3 năm, sau đó về làm dâu 2 năm thì được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng.
Cưới xin có ba bước: ăn giáp tối, tức lễ nhập phòng; ăn mới, tức tổ chức ăn uống và nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái, trong đó phải có một thanh gươm; và đón dâu. Thanh gươm trong lễ vật cưới phản ánh vai trò của nghề rèn gươm và tập quán đeo gươm trong văn hóa Lự.
Bảng tổng hợp các lễ cúng chính theo lịch Lự
| Tên lễ | Thời điểm theo lịch Lự | Địa điểm cúng | Lễ vật ghi nhận |
|---|---|---|---|
| Thờ cúng tổ tiên | Tháng giêng lịch Lự, tương đương tháng 10 âm lịch | Gian hóng trong nhà | Mâm cỗ và 10 ngọn nến sáp ong |
| Cúng bản (căm bản) | Tháng giêng lịch Lự | Đầu bản, cạnh sông suối | Mâm cỗ 3 yến lợn |
| Cúng rừng thiêng (đóng căm) | Tháng 3 mồng 3 | Khu rừng thiêng | Mâm cỗ 3 yến lợn |
| Cúng tháng 6 mồng 6 | Tháng 6 mồng 6 | Không nêu cụ thể trong tư liệu | Mâm cỗ 6 yến lợn |
Sau các lễ cúng, cộng đồng tổ chức ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và thực hiện tục kiêng bản kiêng mường từ 3 đến 9 ngày.
Cần lưu ý gì khi tìm hiểu về dân tộc Lự?
Các tư liệu hiện có về người Lự chủ yếu đến từ các nguồn nhà nước và các trang thông tin về cộng đồng 54 dân tộc. Một số nội dung có sự khác biệt về số liệu dân số giữa các thời điểm điều tra, ví dụ 5.601 người theo Tổng điều tra năm 2009 và 6.757 người theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Sự khác biệt này phản ánh thời điểm thu thập số liệu khác nhau, không phải mâu thuẫn về bản chất.
Về các nghi lễ bun, tư liệu ghi rõ đây là những nghi lễ được thực hiện cách nay khoảng 60 đến 70 năm. Người đọc cần phân biệt giữa tập tục còn được duy trì và tập tục đã được ghi nhận trong quá khứ. Cách trình bày trung thực nhất là nêu rõ phạm vi thời gian mà nguồn ghi nhận, thay vì mặc định rằng mọi tập tục đều còn nguyên vẹn cho đến hiện nay.
Bên cạnh đó, tên gọi Lự, Lừ, Duôn, Nhuồn và Phù Lừ là những tên gọi khác nhau được dùng trong các tư liệu khác nhau để chỉ cùng một dân tộc. Việc nhận diện đúng tên gọi chính thức và các tên gọi khác giúp tránh nhầm lẫn khi tra cứu thông tin về dân tộc này.
