Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chăm (còn gọi Chàm): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Chăm (còn gọi Chàm): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Ảnh: Arian Zwegers / flickr (CC BY 2.0)

TL;DR: Dân tộc Chăm (tên gọi khác là Chàm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời) là một trong 54 dân tộc Việt Nam, nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia (ngữ hệ Nam Đảo). Người Chăm cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh Nam Bộ, với hai bộ phận tôn giáo chính là Bà la môn (kèm nhóm Chăm Bà ni theo Islam truyền thống) và Islam mới. Đời sống tinh thần gắn với hệ thờ cúng tổ tiên theo dòng họ mẹ, các nghi lễ nông nghiệp và lễ hội lớn nhất là Bon Katê tổ chức tại đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Dân tộc Chăm là ai và tên gọi của họ có gì đặc biệt?

Dân tộc Chăm là một trong 54 dân tộc của Việt Nam, có tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời. Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê, Chăm là tên gọi chính thức, còn Chàm là cách gọi khác đã quen dùng trong nhiều văn bản và trong đời sống. Trong bài này, tên chính thức dân tộc Chăm được dùng xuyên suốt, các tên gọi khác chỉ nhắc để người đọc nhận diện.

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân tộc Chăm có 178.948 người. Trước đó, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, con số này là 161.729 người. Sự chênh lệch phản ánh cả tăng dân số tự nhiên và phạm vi thu thập số liệu khác nhau giữa hai cuộc điều tra.

Các nhóm địa phương của dân tộc Chăm được ghi nhận gồm Chăm Hroi, Chăm Poổng (có nguồn ghi Chăm Pôông), Chà Và Ku và Chăm Châu Đốc. Đây là các nhóm địa phương trong cùng một dân tộc, không phải các dân tộc riêng biệt.

Người Chăm sống ở đâu?

Người Chăm cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận, và tại một số địa phương thuộc các tỉnh An Giang (trong đó có khu vực Châu Đốc), Tây Ninh, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh. Danh sách các dân tộc Việt Nam của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ còn ghi nhận địa bàn cư trú của dân tộc Chăm ở Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà.

Có thể hình dung sự phân bố theo hai bộ phận chính về địa bàn và tôn giáo:

  • Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn, trong đó một bộ phận nhỏ theo Islam truyền thống, thường được gọi là người Chăm Bà ni.
  • Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Đốc, Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh theo Islam (Hồi giáo) mới.

Sự khác biệt về địa bàn kéo theo khác biệt về sinh kế. Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận gắn với truyền thống nông nghiệp ruộng nước, làm thuỷ lợi và trồng cây ăn trái, bên cạnh loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Tiếng nói và chữ viết của người Chăm có gì đáng chú ý?

Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia trong ngữ hệ Nam Đảo. Đây là một trong những dân tộc ở Việt Nam có chữ viết từ rất sớm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sanskrit, hiện còn nhiều bia ký và kinh văn bằng chữ Chăm. Tuy nhiên, theo ghi nhận của nguồn cema.gov.vn, việc sử dụng chữ này trước đây còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc, còn việc học hành và truyền nghề chủ yếu vẫn là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.

Người Chăm có một nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm. Đây là cơ sở để phân bố các nghi lễ nông nghiệp trong chu kỳ năm, gồm lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng.

Tổ chức gia đình và xã hội truyền thống của người Chăm

Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, gia đình đã chuyển sang phụ hệ và vai trò nam giới được đề cao, nhưng theo ghi nhận của nguồn, những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ gắn với việc thờ cúng tổ tiên.

Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc là Cau và Dừa, tương tự hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau, thị tộc Cau chuyển thành tầng lớp của những người bình dân, còn thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út, và mỗi dòng họ lại chia thành nhiều chi họ.

Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp có nhiều nét tương đồng với xã hội Ấn Độ cổ đại. Các đẳng cấp có vùng cư trú riêng và những ngăn cách rõ rệt: không thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm.

Về hôn nhân, phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra theo họ mẹ, sính lễ do nhà gái lo liệu, và nguyên tắc hôn nhân là gia đình một vợ một chồng.

Người Chăm thờ cúng những gì?

Hệ thờ cúng của người Chăm gắn chặt với dòng họ theo huyết hệ mẹ và với các vị thần trong tín ngưỡng dân gian lẫn tôn giáo. Đền tháp là di sản văn hoá độc đáo của người Chăm, tồn tại qua nhiều thế kỷ và vẫn gắn bó với đời sống tinh thần, tình cảm của người dân. Các nghi lễ lớn tại đền tháp là dịp cộng đồng cùng thực hành tín ngưỡng.

Việc thờ cúng tổ tiên cũng gắn với nguyên tắc huyết hệ mẹ. Theo nguồn cema.gov.vn, những người trong cùng một dòng họ được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. Về táng tục, người Chăm có hai hình thức là thổ táng và hoả táng: nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng.

Một điểm đáng chú ý là các nghi lễ liên quan đến nhà ở. Khi dựng nhà mới, người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng, làm lễ đón cây khi gỗ được vận chuyển về làng, và lễ phạt mộc để khởi công xây cất ngôi nhà.

Lễ hội chính của người Chăm là gì?

Lễ hội lớn nhất của người Chăm là Bon Katê (trong nhiều văn bản viết là Katê), được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch. Đây là dịp dân vũ Chăm được trình diễn tại các đền tháp, gắn với không gian nghi lễ và cộng đồng.

Bên cạnh Katê, người Chăm còn thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm theo nông lịch cổ truyền:

Nghi lễThời điểm trong chu kỳ nông nghiệp
Lễ khai mương đắp đậpGiai đoạn chuẩn bị nước cho vụ mùa
Lễ hạ điềnKhi bắt đầu xuống đồng cấy lúa
Lễ mừng lúa conKhi lúa đã lên cây con
Lễ mừng lúa ra đòngKhi lúa bắt đầu làm đòng
Bon KatêGiữa tháng mười âm lịch, tại các đền tháp

Một dịp lễ khác được nhắc đến trong nguồn dantocmiennui.baotintuc.vn là lễ Ramưwan, dịp nam nữ người Chăm khoác trang phục truyền thống với nhiều sắc màu. Lễ này gắn với bộ phận người Chăm theo Islam.

Trang phục, ăn uống và nghề truyền thống

Về trang phục, nam nữ đều quấn váy tấm. Đàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy, đàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Trong sinh hoạt hằng ngày hiện nay, người Chăm ăn mặc như người Việtmiền Trung, chỉ còn chiếc áo dài chui đầu xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Về ăn uống, người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ từ săn bắt, hái lượm, chăn nuôi và trồng trọt. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Về nghề thủ công, nổi tiếng ở vùng Chăm là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Các sản phẩm gốm bàn xoay của người Chăm rất nổi tiếng và phổ biến ở miền Trung, trong đó phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm. Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm đang phát triển và thích ứng với kinh tế hàng hoá, phục vụ nhu cầu của du khách.

Về cư trú, người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục. Trong nhà tục có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Về phương tiện vận chuyển, chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển, và họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Âm nhạc và trò chơi dân gian

Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ và kèn xaranai. Theo ghi nhận của nguồn cema.gov.vn, nền dân ca và nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca và nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế. Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon Katê diễn ra tại các đền tháp.

Trẻ em Chăm thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu về dân tộc Chăm

Có vài điểm dễ gây nhầm lẫn khi tra cứu về dân tộc Chăm. Thứ nhất, các nhóm địa phương như Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Đốc là các nhóm trong cùng dân tộc Chăm, không phải các dân tộc riêng. Thứ hai, cách phân biệt Chăm Bà ni và Chăm Islam mới phản ánh hai truyền thống tôn giáo khác nhau trong cùng một dân tộc, không phải hai dân tộc. Thứ ba, các nguồn có thể ghi khác nhau về số dân và về một số chi tiết nghi lễ, do thời điểm điều tra và phạm vi ghi nhận khác nhau, nên khi tra cứu cần đối chiếu nguồn và ghi rõ nguồn đang dùng.

Các thực hành tín ngưỡng và lễ hội của người Chăm được mô tả ở đây với tư cách là thực hành văn hoá, gắn với lịch sử và đời sống cộng đồng. Việc tìm hiểu các thực hành này giúp nhận diện rõ hơn vị trí của dân tộc Chăm trong bức tranh 54 dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Chăm hiện có bao nhiêu người và sống chủ yếu ở đâu?

Theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân tộc Chăm có 178.948 người. Người Chăm cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận, và tại một số địa phương thuộc các tỉnh An Giang (khu vực Châu Đốc), Tây Ninh, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh. Danh sách các dân tộc Việt Nam của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ còn ghi nhận địa bàn cư trú ở Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà.

Tiếng Chăm thuộc ngữ hệ nào và người Chăm có chữ viết riêng không?

Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia trong ngữ hệ Nam Đảo. Người Chăm có chữ viết từ rất sớm, được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sanskrit, hiện còn nhiều bia ký và kinh văn bằng chữ Chăm. Trước đây việc sử dụng chữ này còn hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc, còn việc học hành và truyền nghề chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước.

Lễ hội lớn nhất của người Chăm là lễ gì và tổ chức khi nào?

Lễ hội lớn nhất của người Chăm là Bon Katê, được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch. Đây cũng là dịp dân vũ Chăm được trình diễn tại các đền tháp. Ngoài ra, trong chu kỳ năm còn có các nghi lễ nông nghiệp như lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con và lễ mừng lúa ra đòng.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Uỷ ban Dân tộc, Người Chăm
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Dân tộc và Miền núi, Dân tộc Chăm
  4. Báo Nhân Dân, Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcChăm#Chàm#54dântộcViệtNam#lễhộiKatê#vănhóaChăm