Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam: danh mục chính thức, phân bố và những nét văn hoá chung

Chia sẻ:
Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam: danh mục chính thức, phân bố và những nét văn hoá chung

Ảnh: Maria Hsu / flickr (CC BY 2.0)

TL;DR: Việt Nam công nhận đúng 54 dân tộc theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979. Dân tộc Kinh chiếm khoảng hơn 85,4% dân số, 53 dân tộc còn lại là thiểu số, sinh sống đan xen khắp các vùng miền nhưng tập trung nhiều ở miền núi phía bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Tây Nam Bộ. Bên cạnh khác biệt về ngôn ngữ, trang phục và tập quán, các dân tộc chia sẻ những nét chung trong sinh hoạt nông nghiệp, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.

Vì sao Việt Nam có đúng 54 dân tộc?

Con số 54 dân tộc của Việt Nam không phải một cách đếm tự phát mà gắn với một văn bản cụ thể: Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 do Tổng cục Thống kê công bố. Danh mục này xác định tên gọi chính thức của từng dân tộc, đồng thời ghi nhận các tên gọi khác và các nhóm địa phương nằm trong cùng một dân tộc.

Cần phân biệt hai tầng khái niệm thường bị dùng lẫn: dân tộc và nhóm địa phương (ngành). Ví dụ, Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đen, Mông Xanh là các ngành của dân tộc Mông, không phải bốn dân tộc riêng. Tương tự, Thái Trắng và Thái Đen là hai ngành trong dân tộc Thái. Cách phân loại này giúp danh mục giữ được tính ổn định qua các cuộc điều tra dân số.

Trong 54 dân tộc, dân tộc Kinh (còn gọi là Việt) chiếm hơn 85,4% tổng dân số toàn quốc. 53 dân tộc còn lại được gọi chung là dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 14,6% dân số cả nước.

Danh mục 54 dân tộc được sắp xếp thế nào?

Danh mục chính thức liệt kê 54 dân tộc theo tên gọi, kèm tên gọi khác, các nhóm nhỏ và địa bàn cư trú. Dưới đây là bảng trích lược một số dòng tiêu biểu, giữ nguyên cách ghi của nguồn chính phủ.

TTTên gọiTên gọi khácNhóm nhỏ (trích)Địa bàn cư trú (trích)
1Kinh (Việt)ViệtTrong cả nước
2TàyThổNgạn, Phán, Thu lao, Pa díHà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lai Châu...
3TháiTáyTáy Khao (Thái Trắng), Táy Đăm (Thái Đen)...Sơn La, Lai Châu, Nghệ An, Thanh Hoá, Lào Cai...
4MườngMol, Mual, MọiMọi Bi, Ao Tá (Âu Tá)Hoà Bình, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Yên Bái, Sơn La, Ninh Bình
5Hoa (Hán)Khách, Tàu, HánTriền Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông...Kiên Giang, Hải Phòng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Quảng Ninh...
6Khơ-meMiên, Cur, Cul, Thổ...Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Kiên Giang...
8HMông (Mèo)Mèo, Mẹo, Mán, Miêu tộcMèo Hoa, Mèo Xanh, Mèo Đỏ, Mèo Đen, Mèo TrắngHà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La...
9DaoMán, Động, Trại, Dìu, Miền...Dao Đại Bản, Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Trắng...Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng...
14ChămChiêm Thành, Chăm Pa, Hời, ChàmChăm Hroi, Chàm Châu Đốc, Chăm PôôngNinh Thuận, Bình Thuận, An Giang, TP Hồ Chí Minh...
54Ơ-đuTày HạtNghệ An

Bảng trên chỉ trích một phần. Danh mục đầy đủ gồm cả 54 dòng, từ Kinh, Tày, Thái cho tới Brâu, Rơ-măm, Ơ-đu.

Các dân tộc phân bố ở đâu trên cả nước?

Các dân tộc thiểu số sinh sống khắp các vùng miền nhưng tập trung nhiều ở miền núi cao, biên giới, vùng sâu vùng xa. Theo số liệu được nêu trong bài tổng quan của Báo Nhân Dân, các khu vực tập trung chính gồm miền núi phía bắc khoảng 6,7 triệu người, Tây Nguyên khoảng 2 triệu người, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền trung khoảng 1,9 triệu người, Tây Nam Bộ khoảng 1,4 triệu người. Phần dân số còn lại sinh sống rải rác ở các tỉnh, thành phố khác.

Một số dân tộc như Khmer, Chăm, Hoa có xu hướng sống tập trung ở vùng đồng bằng và đô thị Trung Bộ, Nam Bộ. Các dân tộc còn lại phần lớn cư trú ở vùng miền núi có địa hình chia cắt, giao thông khó khăn và chịu ảnh hưởng của thiên tai như hạn hán, bão, lũ, sạt lở đất.

Theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 4/6/2021, cả nước có 3.434 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trên địa bàn 51 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 1.673 xã khu vực I, 210 xã khu vực II và 1.551 xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn). Các xã này phân bố chủ yếu ở khu vực nông thôn (87,3%), thuộc phạm vi quản lý của 503/713 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.

Những nét văn hoá chung giữa các dân tộc là gì?

Điểm chung dễ nhận thấy nhất là nền tảng nông nghiệp. Phần lớn các dân tộc gắn với trồng trọt và chăn nuôi, mỗi vùng có cây trồng và vật nuôi đặc trưng theo điều kiện địa hình và khí hậu. Nếp sinh hoạt theo mùa vụ tạo ra nhịp điệu lễ hội quanh năm: lễ xuống đồng, lễ cầu mưa, lễ mừng cơm mới, lễ tạ ơn sau thu hoạch.

Điểm chung thứ hai là tín ngưỡng đa thần gắn với tự nhiên và tổ tiên. Nhiều dân tộc thờ thần lúa, thần núi, thần sông, thần bản mệnh của làng, đồng thời duy trì việc thờ cúng tổ tiên trong từng gia đình. Các nghi lễ vòng đời như cưới hỏi, sinh nở, tang ma đều có phần nghi thức chung và phần riêng theo từng dân tộc.

Điểm chung thứ ba là vai trò của cộng đồng làng bản. Ở nhiều nơi, luật tục và hương ước điều chỉnh quan hệ giữa các thành viên, phân chia đất canh tác, bảo vệ rừng và nguồn nước. Đây là cơ chế tự quản đã tồn tại lâu đời, song song với hệ thống hành chính hiện đại.

Ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc được nhìn nhận thế nào?

Các dân tộc ở Việt Nam thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau. Sự đa dạng này phản ánh lịch sử cư trú và giao lưu lâu dài giữa các cộng đồng. Bên cạnh tiếng phổ thông, nhiều dân tộc còn giữ tiếng nói riêng và một số dân tộc có chữ viết cổ hoặc chữ viết được xây dựng về sau.

Cần lưu ý rằng cách phân nhóm ngôn ngữ trong tài liệu nghiên cứu có thể khác nhau tuỳ tác giả và tiêu chí. Có những dân tộc được xếp vào cùng một nhóm ngôn ngữ nhưng văn hoá lại có nhiều nét riêng, và ngược lại. Vì vậy, khi tra cứu, nên đối chiếu ít nhất hai nguồn học thuật thay vì chỉ dựa vào một bảng phân loại duy nhất.

Văn hoá tộc người đang đối mặt với thách thức gì?

Theo bài tổng quan của Báo Nhân Dân, một số nhóm dân tộc thiểu số đang đối mặt với phân hoá xã hội và chênh lệch giàu nghèo gia tăng, cùng với xu hướng mai một của một số giá trị văn hoá truyền thống. Chất lượng nguồn nhân lực ở một số vùng còn thấp, khiến khả năng tiếp cận thành tựu khoa học công nghệ bị hạn chế.

Bên cạnh đó, vấn đề dân tộc và tôn giáo đôi khi bị lợi dụng để tuyên truyền, kích động, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng tới khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là những vấn đề được nêu trong chính các tài liệu tổng hợp của cơ quan chức năng, không phải nhận định riêng của bài viết này.

Khi tra cứu về 54 dân tộc, cần lưu ý điều gì?

Trước hết, nên lấy danh mục chính thức làm mốc tham chiếu. Các tài liệu quảng bá, sách ảnh hoặc bài viết trên mạng đôi khi dùng tên gọi khác, gộp hoặc tách nhóm không đúng danh mục, dẫn tới sai lệch khi đối chiếu.

Thứ hai, cần phân biệt giữa tên gọi chính thức và tên gọi khác. Một số tên gọi khác đã quen trong văn viết đời thường như Khơ Me cho Khmer, Chàm cho Chăm, Mèo cho Mông. Có thể nhắc một lần để người đọc nhận ra, nhưng nên dùng tên chính thức trong phần còn lại của văn bản.

Thứ ba, không nên gán một tập tục cho toàn bộ một dân tộc khi nguồn chỉ ghi nhận ở một địa phương hoặc một nhóm cụ thể. Khác biệt giữa các vùng và giữa các ngành trong cùng một dân tộc là chuyện bình thường, không phải sai lệch so với một hình mẫu nào.

Có phải mọi khác biệt đều cần xếp hạng?

Không. Các nguồn tài liệu thường mô tả sự khác biệt về lễ vật, thời điểm, nghi thức, cách gọi tên và bài trí giữa các địa phương. Đó chính là dữ liệu văn hoá cần ghi nhận. Việc xếp hạng nơi này giữ gìn tốt hơn nơi kia, hay nghi thức này bài bản hơn nghi thức khác, không nằm trong cách tiếp cận của bài viết này và cũng không có cơ sở trong các nguồn được dẫn.

Ở chỗ các nguồn không thống nhất với nhau, cách xử lý phù hợp là nói rõ sự không thống nhất đó, thay vì lặng lẽ chọn một bên rồi trình bày như thể chỉ có một cách duy nhất.

Câu hỏi thường gặp

Việt Nam có bao nhiêu dân tộc và con số đó dựa trên văn bản nào?

Việt Nam công nhận đúng 54 dân tộc. Con số này gắn với Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 do Tổng cục Thống kê công bố.

Dân tộc Kinh chiếm bao nhiêu phần trăm dân số và 53 dân tộc còn lại phân bố ra sao?

Theo bài tổng quan của Báo Nhân Dân, dân tộc Kinh chiếm hơn 85,4% tổng dân số toàn quốc, 53 dân tộc còn lại là thiểu số, chiếm khoảng 14,6%. Các dân tộc thiểu số tập trung chủ yếu ở miền núi phía bắc (khoảng 6,7 triệu người), Tây Nguyên (khoảng 2 triệu người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền trung (khoảng 1,9 triệu người), Tây Nam Bộ (khoảng 1,4 triệu người).

Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đen có phải là ba dân tộc riêng không?

Không. Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đen, Mông Xanh là các ngành (nhóm địa phương) của cùng một dân tộc Mông trong danh mục chính thức. Tương tự, Thái Trắng và Thái Đen là hai ngành của dân tộc Thái.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Uỷ ban Dân tộc (cema.gov.vn) - Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ - Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Báo Nhân Dân - Cộng đồng các dân tộc Việt Nam
  4. Báo Tin tức - Dân tộc và miền núi: 54 dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#54dântộc#dântộcthiểusố#danhmụcdântộc#vănhoátộcngười#phânbốdâncư