Vì sao cùng một ngày dương mà hai quyển lịch ghi hai ngày âm khác nhau?
Cùng một ngày dương lịch, hai quyển lịch có thể ghi hai ngày âm lịch khác nhau vì chúng được tính theo hai múi giờ pháp định khác nhau, hoặc vì một trong hai quyển lấy số liệu từ nguồn không chính thức. Trong trường hợp điển hình giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc, nguyên nhân chính là Việt Nam tính theo múi giờ thứ 7 còn Trung Quốc tính theo múi giờ thứ 8. Khi điểm sóc (thời điểm không trăng) rơi vào khoảng gần nửa đêm, khoảng chênh một giờ ấy đủ để đẩy ngày mùng 1 sang ngày kế tiếp ở nước này nhưng vẫn nằm trong ngày cũ ở nước kia.
Đây không phải hiện tượng hiếm. Báo Nhân Dân từng đưa tin về việc tháng sáu âm lịch năm 2006 của Việt Nam và Trung Quốc lệch nhau một ngày, và tới ngày 1-7 âm lịch hai nước lại trùng nhau cho đến cuối năm. Cùng cơ chế đó, Tết Nguyên đán của Việt Nam có những năm đến trước Tết Trung Quốc một ngày.
Ngày mùng 1 âm lịch được xác định như thế nào?
Ngày mùng 1 âm lịch là ngày chứa điểm sóc, tức thời điểm Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời nằm thẳng hàng theo thứ tự đó, khi Mặt Trăng quay nửa tối về phía Trái Đất. Đây là ngày không trăng, dân gian còn gọi là ngày sóc. Theo ông Trần Tiến Bình, nguyên cán bộ Phòng Nghiên cứu lịch thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, nếu tính thấy điểm sóc rơi vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng 0 đến 24 giờ của một ngày thì ngày đó được lấy làm mùng 1 âm lịch.
Độ dài một tháng âm lịch là khoảng cách giữa hai ngày sóc liên tiếp, được làm tròn thành 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ). Khoảng cách thực tế dao động từ khoảng 29,27 đến 29,84 ngày, trung bình 29,53 ngày. Con số trung bình này tương đương 29 ngày 12 giờ 44 phút 2,8 giây, và chính vì phần lẻ không bao giờ tròn nên tháng âm không thể cố định 29 hay 30 ngày.
Vì sao tháng âm không cố định 29 hay 30 ngày?
Tháng âm lịch phụ thuộc vào hoạt động đồng thời của ba thiên thể là Trái Đất, Mặt Trăng và Mặt Trời, chứ không chỉ phụ thuộc vào chu kỳ tròn khuyết của Mặt Trăng như nhiều người lầm tưởng. Việc tính chuyển động của các thiên thể rất phức tạp, nhất là với Mặt Trăng, do nó chịu nhiễu loạn sức hút từ Mặt Trời, Trái Đất, các hành tinh khác, cộng thêm hình dạng không đều của khối cầu Trái Đất và Mặt Trăng. Vì thế, chỉ cần tính sai vài chục giây cũng có thể dẫn tới việc một tháng bị xếp thành thiếu thay vì đủ, hoặc ngược lại.
Ông Trần Tiến Bình dẫn chứng ấn phẩm công bố năm 2002 của Đài Thiên văn Tử Kim Sơn (Trung Quốc): các ngày 28.9.2057, 4.9.2089 và 7.8.2097 bị tính nhầm sang ngày hôm sau, khiến độ dài các tháng tương ứng bị thay đổi. Điểm sóc ngày 28.9.2057 rơi vào 23 giờ 59, điểm sóc ngày 4.9.2089 rơi vào 23 giờ 57, còn điểm sóc ngày 7.8.2097 rơi vào 23 giờ 59. Chỉ vài phút trước nửa đêm, nhưng đủ để đảo ngược kết quả.
Múi giờ pháp định dính vào chỗ nào?
Múi giờ pháp định dính vào chỗ nó quyết định ngày nào chứa điểm sóc, và do đó quyết định ngày nào là mùng 1 âm lịch. Điểm sóc được tính theo giờ chuẩn quốc tế, nhưng khi chuyển sang giờ địa phương để ghi lịch, mỗi nước cộng thêm số giờ chênh lệch của múi giờ mình chọn. Nếu kết quả vẫn nằm trong ngày thì mùng 1 rơi vào ngày đó; nếu vượt qua nửa đêm thì mùng 1 rơi sang ngày kế tiếp.
Việt Nam chọn múi giờ thứ 7 làm giờ chính thức, có kinh tuyến trung tâm 105 độ kinh đông, tức GMT+7. Trung Quốc chọn múi giờ thứ 8, có kinh tuyến trung tâm 120 độ kinh đông, tức GMT+8. Hai múi này lệch nhau đúng một giờ. Báo Nhân Dân dẫn Quyết định số 134/2002/QĐ-TTg ngày 14-10-2002, trong đó Điều một nêu rõ lấy múi giờ thứ bảy theo hệ thống múi giờ quốc tế làm giờ chính thức của Việt Nam. Trước đó, Quyết định số 121-CP ngày 8.8.1967 cũng đã quy định múi giờ chính thức của nước ta là múi giờ thứ 7 và âm lịch sử dụng ở Việt Nam được tính theo múi giờ chính thức này.
Ví dụ cụ thể: tháng sáu âm lịch năm 2006
Năm 2006, điểm sóc của tháng sáu âm lịch tính theo giờ chuẩn quốc tế là 16 giờ 6 phút 21 giây. Cộng thêm 7 giờ theo giờ Việt Nam, ta được 23 giờ 6 phút 21 giây, vẫn trong ngày, nên lịch Việt Nam ghi mùng 1 tháng 6 âm ứng với ngày 25-6 dương lịch. Cộng thêm 8 giờ theo giờ Bắc Kinh, ta được 0 giờ 6 phút 21 giây ngày hôm sau, nên lịch Trung Quốc ghi mùng 1 tháng 6 âm ứng với ngày 26-6 dương lịch. Ngày dương và ngày can chi giữa hai nước vẫn như nhau, chỉ ngày âm lệch một ngày.
Ví dụ cụ thể: Tết Nguyên đán 2007
Điểm sóc tính cho mùng 1 Tết năm 2007 là 16 giờ 15 phút 23 giây giờ quốc tế. Cộng 7 giờ được 23 giờ 15 phút 23 giây, vẫn trong ngày, nên lịch Việt Nam ghi mùng 1 Tết ứng với ngày 17-2 dương lịch. Cộng 8 giờ thì vượt qua nửa đêm sang ngày hôm sau, nên lịch Trung Quốc ghi mùng 1 Tết ứng với ngày 18-2 dương lịch. Vẫn là ngày dương và ngày can chi như nhau, chỉ ngày âm lệch.
Những lần Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc lệch nhau
Theo báo Nhân Dân, cuối thế kỷ 20 có ba lần Tết Việt Nam lệch Tết Trung Quốc một ngày hoặc một tháng. Năm Mậu Thân 1968 và Kỷ Dậu 1969, Tết Việt Nam đến trước một ngày. Năm Ất Sửu 1985, Tết Việt Nam đến trước một tháng. Trong thế kỷ 21, theo dự báo được nêu trong bài, có ba ngày Tết Nguyên đán của Việt Nam đến trước Tết Trung Quốc một ngày, rơi vào các năm 2007, 2030 và 2053.
Trường hợp năm 1968 được ông Trần Tiến Bình giải thích cụ thể. Ngày 31.12.1967 tương ứng với ngày 1 tháng chạp ở cả lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc, nhưng điểm sóc kế tiếp xảy ra lúc 23 giờ 29 phút giờ Việt Nam ngày 29.1.1968, nên tháng chạp theo lịch Việt Nam chỉ có 29 ngày, tức tháng thiếu. Theo giờ Bắc Kinh lúc đó đã là 0 giờ 29 phút ngày 30.1, nên tháng chạp theo lịch Trung Quốc là tháng đủ. Kết quả là mùng 1 Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968 tại Việt Nam sớm hơn Trung Quốc một ngày.
Vì sao lịch bán trên thị trường cũng ghi khác nhau?
Lịch bán trên thị trường cũng có thể ghi khác nhau vì không phải quyển nào cũng lấy số liệu từ nguồn chính thức. Báo Nhân Dân dẫn lời đại diện Ban Lịch Nhà nước cho biết Ban Lịch Nhà nước có nhiệm vụ nghiên cứu và quản lý lịch của Nhà nước, hàng năm cung cấp bảng lịch chính thức cho tất cả nhà xuất bản lịch trong cả nước. Nếu lấy nguồn thông tin từ nơi khác ngoài Ban Lịch Nhà nước thì không đúng với lịch nước ta, chỉ có tác dụng tham khảo. Trong giao lưu văn hóa, trên thị trường có nhiều loại lịch nghiên cứu và tham khảo khác nhau, nên người dùng có thể bắt gặp những quyển ghi ngày âm khác với lịch chính thức.
Theo thông tin trên báo Nhân Dân, để bảo đảm độ chuẩn, các nhà xuất bản cần thực hiện Thông tư số 61/2006/TT-BVHTT ngày 15-6-2006 của Bộ Văn hóa Thông tin, trong đó quy định in lịch phải lấy số liệu chính thức từ Ban Lịch Nhà nước.
Vì sao đôi khi lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc có tháng đủ, tháng thiếu ngược nhau?
Đôi khi lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc có tháng đủ, tháng thiếu ngược nhau vì cùng một lý do múi giờ, chỉ khác là hệ quả rơi vào độ dài tháng chứ không rơi vào ngày mùng 1. Báo Nhân Dân từng ghi nhận hiện tượng tháng này thiếu, tháng sau đủ ở lịch Việt Nam, trong khi tháng này đủ, tháng sau thiếu ở lịch Trung Quốc, rồi sau đó hai lịch lại trùng nhau. Ông Trần Tiến Bình cũng cho biết thống kê các tháng chạp đủ hay thiếu qua các năm không mang nhiều ý nghĩa, vì tất cả phụ thuộc vào kết quả tính toán chính xác ở từng thời điểm cụ thể.
| Năm | Tháng chạp theo lịch Việt Nam | Ghi chú |
|---|
| 2014 đến 2021 | Đủ 30 ngày (trừ năm 2022) | Theo thống kê của ông Trần Tiến Bình |
|---|
| 2022 | Thiếu 29 ngày | Tháng chạp không có ngày 30 |
|---|
| 2023, 2024 | Đủ 30 ngày | Năm 2024 có ngày 30 Tết Giáp Thìn |
|---|
| 2025 đến 2032 | Thiếu 29 ngày | Không có ngày 30 tháng chạp |
|---|
| 2033 | Đủ 30 ngày | Lần đầu trở lại có ngày 30 tháng chạp |
|---|
Lịch Việt Nam thực chất là âm dương lịch
Điều cần nói rõ là lịch mà người Việt vẫn gọi là lịch âm thực chất là âm dương lịch, tức kết hợp cả chu kỳ Mặt Trăng lẫn chu kỳ thời tiết nóng lạnh do Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Theo Báo VietNamNet, một năm âm lịch thuần túy chỉ có 354 hoặc 355 ngày, trong khi chu kỳ thời tiết thay đổi nóng lạnh khoảng 364 ngày, mỗi năm dư 10 đến 11 ngày, ba năm liền dư hơn một tháng. Để phù hợp với chu kỳ nóng lạnh, người xưa cộng thêm một tháng vào năm thứ ba, gọi là tháng nhuận, năm đó có 13 tháng và dài 384 hoặc 385 ngày.
Cách tính lịch âm tại Việt Nam và Trung Quốc đều áp dụng chung một bộ quy tắc: ngày đầu tháng là ngày sóc; năm bình thường có 12 tháng, năm nhuận có 13 tháng; ngày đông chí luôn rơi vào tháng 11; trong năm nhuận, tháng không có trung khí là tháng nhuận và được đánh số cùng với tháng trước nó, thêm chữ nhuận. Nếu trong năm nhuận có hai tháng không có trung khí thì tháng đầu tiên sau đông chí được coi là tháng nhuận. Điểm khác nhau duy nhất giữa hai nước nằm ở kinh tuyến pháp định dùng để tính toán: Việt Nam dùng 105 độ kinh đông, Trung Quốc dùng 120 độ kinh đông.
Về nguồn gốc lịch âm
Theo Báo VietNamNet dẫn trang Nghiên cứu lịch sử và cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của giáo sư Trần Ngọc Thêm, lịch dựa vào vận hành của Mặt Trăng không bắt đầu từ Trung Hoa như nhiều người lầm tưởng. Nền văn minh Sumer phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm, vùng đất sau này thành Baghdad, thủ đô Iraq, đã biết làm lịch dựa vào vận hành của Mặt Trăng. Đế quốc La Mã thời trước Julius Cesar, khoảng năm 40 trước Công nguyên, cũng dùng loại âm lịch này. Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho biết lịch âm phát sinh từ vùng văn hóa Lưỡng Hà, dựa trên chuyển động của Mặt Trăng với chu kỳ 29,53 ngày, mỗi năm có 354 ngày.
Vậy khi hai quyển lịch ghi khác nhau thì nên theo quyển nào?
Khi hai quyển lịch ghi khác nhau, người dùng trong nước nên theo lịch Nhà nước Việt Nam, tức lịch do Ban Lịch Nhà nước cung cấp và được tính theo múi giờ thứ 7. Báo Nhân Dân khẳng định ngày âm lịch in trên những loại lịch không theo thông tin do Ban Lịch Nhà nước cung cấp là sai, còn lịch Nhà nước Việt Nam là đúng cho nước ta. Điều này không có nghĩa lịch Trung Quốc sai, mà là lịch Trung Quốc đúng với âm lịch Trung Quốc, vì mỗi nước tính theo giờ pháp định của mình.
Cần lưu ý thêm rằng ngày dương lịch và ngày can chi giữa hai nước vẫn như nhau trong mọi trường hợp đã nêu. Chỉ ngày âm lịch, số ngày của tháng âm và ngày Tết Nguyên đán mới có thể lệch. Việc hiểu đúng cơ chế này giúp tránh nhầm lẫn khi tra cứu ngày giỗ, ngày lễ, hoặc khi đối chiếu lịch vạn niên của các nguồn khác nhau. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu vẫn không thống nhất hoàn toàn về một số điểm kỹ thuật trong tính lịch ở những thời điểm xa trong quá khứ và tương lai, nhưng với lịch hiện hành, quy ước múi giờ pháp định là yếu tố quyết định rõ ràng nhất.
