Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ: làng xã, đình chùa và nếp thờ cúng vùng châu thổ sông Hồng

Chia sẻ:
Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ: làng xã, đình chùa và nếp thờ cúng vùng châu thổ sông Hồng
TL;DR: Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ xoay quanh làng xã, một đơn vị vừa là không gian cư trú vừa là cộng đồng tín ngưỡng, với cổng làng, đình, chùa, quán, giếng cổ và nhà thờ họ tạo thành một hệ thiết chế khép kín. Nếp thờ cúng vùng châu thổ sông Hồng thường kết hợp thờ Thành hoàng, thờ Phật, thờ Mẫu và thờ người có công, phản ánh lớp văn hoá nông nghiệp lúa nước. Các làng cổ như Đường Lâm, Phù Lưu, Phúc Xá là những trường hợp còn lưu giữ tương đối rõ cấu trúc và thực hành tín ngưỡng ấy, dù mức độ bảo tồn mỗi nơi một khác.

Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ được hiểu là gì?

Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ là cách gọi chỉ lớp văn hoá hình thành ở vùng châu thổ sông Hồng, nơi cư dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp lúa nước và tổ chức đời sống theo đơn vị làng xã. Đặc trưng dễ nhận thấy nhất là sự gắn kết giữa không gian cư trú và không gian tín ngưỡng: mỗi làng thường có cổng làng, đình, chùa, quán, giếng cổ và nhà thờ họ. Làng không chỉ là nơi ở mà còn là một cộng đồng có hương ước, có lễ hội riêng và có hệ thần linh riêng.

Cách nhìn này không phải một công thức cứng. Mức độ đậm nhạt của từng yếu tố thay đổi theo từng làng, từng huyện và từng giai đoạn lịch sử. Việc lấy một vài làng cổ làm ví dụ chỉ giúp nhận diện các thành tố điển hình, không có nghĩa mọi làng ở đồng bằng Bắc Bộ đều giống nhau.

Cấu trúc làng Việt cổ gồm những thiết chế nào?

Các nguồn tư liệu về làng cổ Đường Lâm cho thấy một làng Việt cổ điển hình thường có: cổng làng, cổng ngõ, đình, chùa, điếm, quán, giếng cổ và nhà thờ họ. Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) được mô tả là nơi còn giữ được gần như toàn bộ cấu trúc không gian và các thiết chế ấy, nên thường được ví như một bảo tàng sống về làng quê đồng bằng, trung du Bắc Bộ.

Mỗi thiết chế đảm nhận một chức năng riêng:

  • Cổng làng: vừa là ranh giới không gian, vừa là biểu tượng của cộng đồng. Cổng làng Mông Phụ (Đường Lâm) được xây theo dáng như một ngôi nhà, có tường hai bên và hệ thống cột trụ, lợp ngói ta, tường đá ong để mộc.
  • Đình: trung tâm sinh hoạt cộng đồng và là nơi thờ Thành hoàng. Đình Mông Phụ được xây năm 1684 đời vua Lê Hy Tông, không có tường bao mà dùng hàng lan can thông thoáng.
  • Chùa: nơi thờ Phật và cũng là không gian tín ngưỡng của cả làng. Chùa Mía ở Đường Lâm được ghi nhận có 287 pho tượng thờ, trong đó 174 tượng đất nung sơn son thếp vàng, 107 tượng mộc và 6 tượng đồng.
  • Quán: công trình dành cho việc công của làng. Ở Đường Lâm, tục lệ xưa quy định người làng qua đời ở phương xa thì không được đưa vào làng, nên làng xây quán để làm lễ mai táng. Quán Lồ Biêu được xây bằng gạch đá ong, bốn mái, đầu đao cong vút, để trống không xây tường.
  • Giếng cổ: nguồn nước và cũng là điểm tâm linh. Đường Lâm có nhiều giếng cổ, miệng giếng ghép đá ong hoặc gạch đỏ, có giếng được coi là mắt rồng, có giếng gắn với tín ngưỡng cầu sữa cho phụ nữ đang nuôi con.
  • Nhà thờ họ: nơi duy trì dòng họ và gia phong, một thiết chế nằm giữa phạm vi gia đình và phạm vi làng.
Thiết chếChức năng chínhVí dụ ghi nhận trong nguồn
Cổng làngRanh giới không gian, biểu tượng cộng đồngCổng làng Mông Phụ, Đường Lâm
ĐìnhSinh hoạt cộng đồng, thờ Thành hoàngĐình Mông Phụ xây năm 1684; đình Phúc Xá thờ Lý Thường Kiệt và các Thành hoàng
ChùaThờ Phật, không gian tín ngưỡng chungChùa Mía (Đường Lâm) với 287 pho tượng; chùa Bắc Biên (An Xá tự)
QuánViệc công của làng, có nơi dùng cho lễ mai táng người mất ở xaQuán Lồ Biêu, quán Giang ở Đường Lâm
Giếng cổNguồn nước, điểm tâm linhGiếng xóm Phủ, giếng xóm Miễu, giếng Chuông Sa ở Đường Lâm
Nhà thờ họDuy trì dòng họ, gia phongNhà thờ họ trong cấu trúc làng Đường Lâm

Nếp thờ cúng vùng châu thổ sông Hồng có gì đặc biệt?

Nếp thờ cúng ở đồng bằng Bắc Bộ thường không tách rời khỏi đời sống làng. Một làng có thể cùng lúc thờ Thành hoàng ở đình, thờ Phật ở chùa, thờ Mẫu ở đền và thờ người có công ở đền riêng. Sự chồng lớp này là kết quả của nhiều tầng văn hoá tích tụ qua thời gian, chứ không phải một hệ thống tín ngưỡng duy nhất được thiết kế từ đầu.

Ở Đường Lâm, đền thờ Phùng Hưng được lập tại thôn Cam Lâm, kiến trúc hiện nay mang dáng vẻ thế kỷ 19, gồm cổng nghi môn, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung. Lễ hội đền Phùng Hưng tổ chức ngày 8 tháng Giêng âm lịch, là ngày mất của Bố Cái Đại Vương. Cách đó không xa là lăng Ngô Quyền, xây đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc nhà bia bốn mái, gắn với truyền thuyết về rặng duối cổ thụ nơi Ngô Quyền cho quân buộc voi chiến.

Ở làng Phù Lưu (Bắc Ninh), Thành hoàng là một vị thần Mẫu, vốn là mụ ả tu đắc đạo có phép hô phong hoán vũ. Khi hạn hán, dân cầu Bà hoá phép làm mưa nên tôn Bà làm Thành hoàng. Hội làng tổ chức ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch, là ngày hoá của Bà, và được ghi nhận là thể hiện dấu vết của việc thờ nữ thần trong cư dân nông nghiệp.

Ở cụm di tích làng Phúc Xá - Bắc Biên (bờ bắc sông Hồng), hệ thống thờ cúng còn đa dạng hơn: đình Phúc Xá thờ ba vị Thành hoàng, hai công chúa và danh tướng Đào Kỳ, đồng thời tôn Lý Thường Kiệt làm Tổ địa; đền Mẫu Thoải thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ; đền Rừng thờ chúa Thượng Ngàn; đền Núi gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn. GS.TS Bùi Xuân Đính nhận xét một làng có tới bốn ngôi đền như vậy là rất hiếm, và các vị thần ở đó thể hiện nhiều yếu tố: tôn vinh người có công, tôn vinh lực lượng siêu nhiên như Thuỷ thần, Sơn thần.

Vì sao đình làng lại giữ vai trò trung tâm?

Đình làng giữ vai trò trung tâm vì đó là nơi hội tụ cả ba chức năng: thờ tự, hành chính và sinh hoạt cộng đồng. Đình thờ Thành hoàng, vị thần được coi là người bảo trợ cho làng, đồng thời là nơi dân làng họp bàn việc công và tổ chức lễ hội.

Kiến trúc đình phản ánh vai trò ấy. Đình Phù Lưu qua nhiều lần tôn tạo vẫn giữ nét kiến trúc cổ với mái rộng, đầu đao uốn cong, hệ cột và bộ khung sườn chắc chắn, các gian cao rộng thoáng mát để tiện sinh hoạt cộng đồng. Đình còn lưu giữ hai di vật cổ: bức hoành phi năm chữ "Thánh cung vạn vạn tuế" và chữ "Trung hoà thả bình" sơn son thiếp vàng.

Đình Mông Phụ ở Đường Lâm lại được xây theo một cách khác: không có tường bao, thay vào đó là hàng lan can thông thoáng. Theo người xưa kể lại, làng Mông Phụ nằm trên thế đất hình con rồng, đầu rồng chính là nơi toạ lạc của đình. Sự khác biệt giữa hai ngôi đình cho thấy không có một khuôn mẫu duy nhất cho kiến trúc đình làng, dù chức năng cơ bản là tương tự.

Hương hiền từ và truyền thống khoa bảng phản ánh điều gì?

Hương hiền từ là một thiết chế giáo dục Nho học cấp làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, vừa thờ người có công với làng, vừa thờ người đỗ khoa trường. Ở Phù Lưu, nhà Hương hiền từ có ba ban thờ, ban giữa có bia Hương hiền từ thờ các vị có công với làng và những vị đỗ đại khoa, hai bên là hai bài vị. Thiết chế này cho thấy việc khuyến khích nhân tài được thể chế hoá ngay ở cấp làng.

Dấu vết khoa bảng của Phù Lưu có từ cụ Chu Tam Dị đậu Tiến sĩ năm 1529. Văn bia còn lưu ở đình làng ghi rằng Phù Lưu phát triển kinh tế từ rất sớm, khoảng thế kỷ XVI - XVII đã có những dòng họ lớn đóng góp cho địa phương 400 quan tiền và 1, 2 gánh gạo. Đây là một ví dụ cho thấy yếu tố kinh tế và yếu tố khoa bảng có thể cùng hiện diện trong một làng.

Làng Phù Lưu và làng Phúc Xá cho thấy điều gì về sự khác biệt giữa các làng?

Hai làng này cho thấy cùng nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng mỗi làng có một trọng tâm khác nhau. Phù Lưu nổi bật ở phương diện kinh tế chợ và truyền thống buôn bán. Làng có tên nôm là làng Giầu, nguyên là vùng trồng trầu, nằm bên Quốc lộ 1A gần thị trấn Từ Sơn. Trong các thế kỷ XV, XVI, Phù Lưu từng có chợ mang tên Thị Thôn, cuối thế kỷ XV chợ chùa Phù Lưu trở thành chợ nổi tiếng, thu hút thương khách. Chợ Giàu từng là trung tâm buôn bán của huyện Đông Ngàn xưa và của cả tỉnh Bắc Ninh trước kia, với mặt hàng chính là trầu cau cùng hàng xén, tơ lụa, vải vóc, gốm sứ. Người Phù Lưu thường tự hào rằng ở đâu có chợ, ở đó có người Phù Lưu.

Phúc Xá - Bắc Biên lại nổi bật ở phương diện tín ngưỡng ven sông. Cụm di tích gồm đình Phúc Xá, chùa Bắc Biên, đền Đức Ông Đào Kỳ, đền Mẫu Thoải, đền Rừng, đền Núi. Chùa Bắc Biên nguyên danh là An Xá tự, được ghi nhận là ngôi chùa cổ của làng An Xá từ thời Lý, qua nhiều lần "chạy lở" cùng dòng sông nên hiện toạ lạc bên bờ bắc. Trên gác chuông chùa treo quả chuông đồng "An Xá tự chung" đúc năm 1690, cao 1,2m, nặng hơn một tấn, khắc hơn 5.500 chữ Hán. GS.TS Bùi Xuân Đính nhấn mạnh Bắc Biên là một "bảo tàng sống" của một cộng đồng cư dân đã từng phải rời quê vì sự nghiệp của Thăng Long và đất nước.

Sự khác nhau giữa Phù Lưu và Phúc Xá không phải là hơn kém. Đó là hai cách thích nghi khác nhau với điều kiện vị trí: một làng gần đường và chợ thì phát triển buôn bán, một làng ven sông thì gắn đời sống tâm linh với sông nước và rừng núi.

Kiến trúc nhà ở và vật liệu địa phương nói lên điều gì?

Kiến trúc nhà ở ở đồng bằng Bắc Bộ phản ánh điều kiện vật liệu tại chỗ. Ở Đường Lâm, phần lớn nhà cổ được xây bằng đá ong, hệ thống cột kèo làm bằng gỗ mít, gỗ xoan, chỉ một số ít gia đình có điều kiện làm bằng gỗ lim. Mái nhà thường lợp ngói ta (ngói ri). Kiến trúc phổ biến là năm gian: ba gian chính dùng để thờ cúng và tiếp khách, hai gian hai bên dùng cho sinh hoạt cá nhân.

Ngôi nhà cổ nhất ở Mông Phụ được ghi nhận là nhà ông Nguyễn Văn Hùng, niên đại xây dựng năm 1649. Các ngôi nhà cổ khác thuộc ông Hà Hữu Thể, ông Hà Nguyên Huyến cũng là điểm tham quan quen thuộc. Đường Lâm có nghề làm tương nổi tiếng, nên trong sân nhà thường có những chum tương vừa để dùng vừa để bán.

Cấu trúc nhà năm gian với ba gian chính dành cho thờ cúng cho thấy không gian ở và không gian thờ tự không tách rời nhau trong nếp sống truyền thống. Việc thờ cúng diễn ra ngay trong nhà, bên cạnh sinh hoạt thường ngày, chứ không chỉ ở đình chùa.

Sông Hồng và môi trường nước ảnh hưởng thế nào đến đời sống tâm linh?

Dọc lưu vực sông Hồng, nơi nào có nước thì người dân thường dựng đền thờ Thuỷ thần. Ở những nơi giáp ranh giữa sông và núi, họ lại lập đền thờ Mẫu Thượng Ngàn, vị thần của rừng xanh, cây cỏ và sự sinh sôi. Cách bố trí này cho thấy hệ thần linh phản ánh trực tiếp môi trường sống: nước sông thì có thần nước, rừng núi thì có thần rừng.

Đền Mẫu Thoải ở Phúc Xá thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, con gái út của Vua Cha Bát Hải Động Đình, được coi là vị thần tạo ra ao, đầm, sông hồ, điều hoà mưa gió và cai quản mọi miền sông nước. Ngôi đền có kiến trúc một gian hai chái, chồng diêm hai tầng tám mái, với cây ngái cổ thụ trước sân. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, và việc thực hành tâm linh tại đền Núi, từ lễ cầu an, hát chầu văn đến các nghi thức tạ ơn rừng, được ghi nhận là một phần còn sống của di sản ấy.

Đời sống làng xã còn lưu giữ những thực hành nào?

Bên cạnh hệ thống di tích, đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ còn lưu giữ nhiều thực hành gắn với nhịp nông nghiệp và nhịp lễ hội. Ở Đường Lâm, người ta còn gặp những hình ảnh như đàn bò đi qua cổng làng ra đồng gặm cỏ, các cụ già bên quán nước đầu làng, những bà cụ nhai trầu, những con đường lát gạch đỏ. Những chi tiết này cho thấy nhịp sống làng quê vẫn vận hành song song với các công trình cổ.

Ở Phúc Xá, hương ước làng năm 1923 ghi việc thành lập Am thờ chúng sinh, nơi thờ những vong linh không nơi nương tựa: người không may qua đời trên đường, nơi chợ, thai nhi không trọn kiếp, các linh hồn phiêu dạt chưa được siêu thoát. Trong am còn lưu bức hoành phi đề bốn chữ "Phúc Xá thọ Am". Hằng năm, mỗi dịp lễ tết, người dân trong làng vẫn đến thắp hương, dâng cơm, cầu siêu cho các vong linh. Đây là một thực hành văn hoá cộng đồng, không phải một khẳng định về tính linh nghiệm.

Lễ hội làng phản ánh cấu trúc xã hội như thế nào?

Lễ hội làng là dịp cả cộng đồng tái khẳng định các mối quan hệ. Ở Phù Lưu, hội làng tổ chức ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch, thờ Phật và Thành hoàng. Trong những ngày chuẩn bị, đình, đền, chùa được lau dọn, đường làng ngõ xóm được chỉnh trang, người tham gia ban tế phải chay tịnh và sạch sẽ. Nguồn tư liệu ghi nhận rằng trong dịp lễ, mọi người trở nên vui vẻ, thân mật, cởi mở, xoá bỏ bất hoà trong đời thường để "cầu phúc".

Ở Phúc Xá, lễ hội mùng 6 tháng 3 có rước kiệu giao lưu giữa hai làng Phúc Xá và làng Hội Phụ (Đông Anh). Hai làng kết nghĩa và cùng thờ chung danh tướng Đào Kỳ, người hy sinh tại Cổ Loa năm 43 Công nguyên. Việc rước kiệu giao lưu thể hiện tình nghĩa giữa hai cộng đồng, một dạng quan hệ liên làng được duy trì bằng nghi lễ.

Có phải mọi làng ở đồng bằng Bắc Bộ đều giống nhau?

Không. Các nguồn tư liệu cho thấy mỗi làng có cấu trúc, hệ thần linh và lịch lễ hội riêng. Đường Lâm gắn với hai vị vua Phùng Hưng và Ngô Quyền, cùng Thám hoa Giang Văn Minh. Phù Lưu gắn với chợ Giàu, nghề buôn bán và truyền thống khoa bảng. Phúc Xá gắn với cụm đền ven sông và tín ngưỡng thờ Mẫu. Ngay trong một xã như Đường Lâm, chín thôn cũng có mức độ tập trung di tích khác nhau: Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Cam Lâm là nơi tập trung nhiều di tích và nhà cổ, trong đó thôn Mông Phụ được ghi nhận là hoàn chỉnh và đẹp nhất.

Vì vậy, khi nói về văn hoá đồng bằng Bắc Bộ, cần phân biệt giữa các yếu tố có tính phổ biến như cổng làng, đình, chùa, giếng, nhà thờ họ và các yếu tố mang tính đặc thù của từng làng. Việc khái quát hoá quá mức sẽ làm mất đi sự đa dạng vốn có của vùng châu thổ.

Những giá trị này đang được nhìn nhận ra sao?

Các cụm di tích như Đường Lâm, Phù Lưu, Phúc Xá - Bắc Biên được nhìn nhận như những "di sản sống" bên cạnh giá trị kiến trúc và lịch sử. Với Phúc Xá - Bắc Biên, GS.TS Bùi Xuân Đính cho rằng giá trị lớn nhất không nằm ở số lượng hiện vật hay sự cổ kính của kiến trúc, mà ở sự sống động của các thực hành tín ngưỡng, lễ hội và nếp sống cộng đồng, và cụm di tích này xứng đáng được bảo tồn ở tầm quốc gia.

Ở Đường Lâm, các ngôi nhà cổ, quán, giếng và chùa Mía tạo thành một quần thể có thể tham quan và tìm hiểu. Ở Phù Lưu, cụm di tích đình - đền - chùa được công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh và cấp quốc gia, trong đó chùa Pháp Quang nằm ngay bên phải đình với kiến trúc đơn giản, quy mô vừa phải, hài hoà với cảnh quan chung.

Cách nhìn nhận này không khẳng định các thực hành tín ngưỡng là linh nghiệm hay không linh nghiệm. Nó ghi nhận rằng đó là những thực hành văn hoá đang tồn tại và đang được cộng đồng duy trì.

Câu hỏi thường gặp

Văn hoá đồng bằng Bắc Bộ gắn với những thiết chế nào của làng?

Các thiết chế thường gặp gồm cổng làng, cổng ngõ, đình, chùa, điếm, quán, giếng cổ và nhà thờ họ. Đường Lâm được ghi nhận là nơi còn giữ được gần như toàn bộ cấu trúc không gian và các thiết chế này, nên thường được ví như bảo tàng sống về làng quê đồng bằng, trung du Bắc Bộ.

Nếp thờ cúng ở đồng bằng Bắc Bộ thường kết hợp những loại tín ngưỡng nào?

Một làng có thể cùng lúc thờ Thành hoàng ở đình, thờ Phật ở chùa, thờ Mẫu ở đền và thờ người có công ở đền riêng. Ví dụ ở cụm di tích Phúc Xá - Bắc Biên, đình thờ các Thành hoàng và danh tướng Đào Kỳ, đền Mẫu Thoải thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ, đền Rừng thờ chúa Thượng Ngàn, đền Núi gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn.

Các làng ở đồng bằng Bắc Bộ có giống nhau hoàn toàn không?

Không. Mỗi làng có cấu trúc, hệ thần linh và lịch lễ hội riêng. Đường Lâm gắn với Phùng Hưng, Ngô Quyền và Thám hoa Giang Văn Minh; Phù Lưu gắn với chợ Giàu, nghề buôn bán và truyền thống khoa bảng; Phúc Xá gắn với cụm đền ven sông và tín ngưỡng thờ Mẫu. Ngay trong một xã như Đường Lâm, chín thôn cũng có mức độ tập trung di tích khác nhau.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Nhân Dân - Làng cổ Đường Lâm: Hồn Việt ở đất hai vua
  2. Báo Văn hoá - Cụm di tích làng Phúc Xá - Bắc Biên: Di sản sống bên dòng sông Hồng
  3. Dân tộc và Miền núi - Làng cổ Phù Lưu

Nội dung này có giúp được bạn không?

#vănhoáđồngbằngBắcBộ#làngxã#đìnhchùa#thờcúng#ĐườngLâm#PhùLưu#PhúcXáBắcBiên