Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Văn hoá Nam Bộ: đình làng, tín ngưỡng thờ Bà, phương ngữ và nếp sống mở

Chia sẻ:
Văn hoá Nam Bộ: đình làng, tín ngưỡng thờ Bà, phương ngữ và nếp sống mở
TL;DR: Văn hoá Nam Bộ hình thành từ quá trình khẩn hoang của nhiều lớp lưu dân, tạo nên tính cố kết cộng đồng cao, tín ngưỡng thờ Bà phổ biến và phương ngữ giàu hình tượng. Đình làng và nhà lồng chợ là hai thiết chế tiêu biểu, phản ánh nếp sống vừa tín ngưỡng vừa trọng thương nghiệp. Những nét này khác với đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ về mật độ thiết chế, cách gọi tên và mức độ giao lưu tộc người, nhưng không hơn kém về giá trị.

Văn hoá Nam Bộ hình thành từ đâu?

Văn hoá Nam Bộ là kết quả của một quá trình khẩn hoang tương đối trễ so với các vùng khác trong cả nước, với sự tham gia của nhiều lớp lưu dân và nhiều tộc người cùng cộng cư. Theo các nghiên cứu được trình bày tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Văn hóa Nam bộ - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Trường Đại học Trà Vinh tổ chức, chính hoàn cảnh ấy đã hình thành trong đời sống cư dân một đặc tính cố kết cộng đồng đặc biệt, không phân biệt nhóm người, dân tộc, xuất thân hay giàu nghèo.

Trải qua quá trình cộng cư lâu dài, các nhóm cư dân dần hoà hợp trong nhiều khía cạnh: điều kiện tự nhiên, nhân văn, lịch sử, văn hoá, xã hội. Đây là điểm cần lưu ý khi so sánh vùng miền: nếu đồng bằng Bắc Bộ có bề dày làng xã với những thiết chế đã ổn định từ lâu, thì Nam Bộ lại mang đặc điểm của một vùng đất được kiến tạo bởi nhiều dòng chảy văn hoá gặp nhau, trong đó yếu tố Kinh, Hoa, Khmer và Chăm cùng hiện diện.

Đình làng và nhà lồng chợ: hai thiết chế tiêu biểu

Đình làng Nam Bộ vừa là nơi thờ cúng các vị thần và tiên hiền, hậu hiền, vừa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Bên cạnh đình, nhà lồng chợ là công trình gắn với đời sống thương hồ. Kiến trúc nhà lồng chợ có từ nửa sau thế kỷ XIX, gồm nhiều gian, mái ngói, hàng cột, bốn phía không có vách, có thể che thêm mái để mở rộng không gian.

Theo hồi ký của Paul Doumer được dẫn lại, mỗi làng ở Nam Kỳ đều tự hào với hai công trình của làng mình: cái đình và nhà lồng chợ. Cách nói này cho thấy sự song hành giữa tín ngưỡng truyền thống và tư duy cởi mở, trọng thương nghiệp. Chợ nhà lồng thường nằm sát bến sông, ghe xuồng chở nông sản tấp nập. Vào dịp giáp Tết, bến chợ đông không còn chỗ chen chân, hàng hoá từ nhiều vùng miền đổ về.

Thiết chếChức năng chínhĐặc điểm kiến trúc, vị trí
Đình làngThờ thần, tiên hiền, hậu hiền; sinh hoạt cộng đồngThường là công trình trung tâm của làng
Nhà lồng chợTrao đổi hàng hoá, giao thươngNhiều gian, mái ngói, không vách, sát bến sông
Miếu, lăng thờ cá ÔngTín ngưỡng nghề biểnPhân bố ở các tỉnh ven biển và hải đảo
Miếu người HoaThờ thần, thánh; gắn kết cộng đồngMàu đỏ, toạ lạc ở khu vực thị tứ

Vì sao tín ngưỡng thờ Bà phổ biến ở Nam Bộ?

Tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Bà ở Nam Bộ phổ biến vì đáp ứng nhu cầu tâm linh đa dạng của cư dân nhiều tộc người cùng cộng cư. Theo nhóm nghiên cứu Phan Đình Dũng và cộng sự Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, những vị Mẫu được thờ tự tiêu biểu có cách gọi dân gian và danh xưng tôn quý: Bà (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Thiên Hậu), Mẫu (Thiên Hậu Thánh Mẫu), Mẹ (Mẹ Quan Âm).

Các vị Mẫu này gắn với những lễ hội lớn trong năm, mang tính chất cho cả vùng, vượt ra khỏi không gian của một địa phương hay một cộng đồng tộc người cụ thể. Bà Quan Âm trong tín niệm Phật giáo từ nước ngoài truyền vào Việt Nam, đến Nam Bộ trở thành vị Mẫu vừa mang tính tín ngưỡng dân gian vừa mang tính tôn giáo. Bà Thiên Hậu từ Trung Quốc theo chân di dân người Hoa vào Nam Bộ, vượt thoát tín niệm hiển linh cứu giúp người đi biển để trở thành vị Mẫu thần đáp ứng nhiều nhu cầu niềm tin. Bà Chúa Xứ với những lý giải về nguồn gốc phản ánh chiều kích lịch sử, dung hợp yếu tố tín ngưỡng của các tộc người Chăm, Khmer và được Việt hoá.

Theo nhóm nghiên cứu, từ những tín niệm mang tính chuyên biệt lúc ban đầu, qua tiếp xúc và tiếp biến trong cộng đồng, các vị Mẫu tiếp tục được tôn kính thành phúc thần trên nhiều phương diện mà cư dân quan tâm: cầu an, cầu lộc, cầu hoà, cầu nghề nghiệp, cầu tài, cầu duyên. Tín ngưỡng thờ Mẫu đáp ứng nhu cầu của cư dân không phân biệt văn hoá tộc người hay nơi cư trú. Hiện nay, các lễ hội lớn tại những di tích quan trọng thờ nữ thần như Bà Đen (Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang), Bà Thiên Hậu (Bình Dương), Bà Quan Âm (Bạc Liêu) đã trở thành điểm đến tâm linh và nguồn tài nguyên văn hoá cho phát triển du lịch địa phương.

Tín ngưỡng vùng biển Nam Bộ có gì riêng?

Tín ngưỡng vùng biển Nam Bộ phong phú với nhiều dạng thức của người Kinh và người Hoa, được hình thành khoảng hai thế kỷ trở lại đây. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi, tín ngưỡng chủ đạo là các nhiên thần, nổi bật là các lăng, miếu thờ cá Ông phân bố hầu khắp các tỉnh thành ven biển, kể cả ở hải đảo, với 76 lăng, miếu trải dài 9 tỉnh, thành giáp biển và 3 tỉnh không giáp biển là Long An, Vĩnh Long, Cần Thơ.

Yếu tố Hoa ảnh hưởng đến kiến trúc và trang trí của các cơ sở tín ngưỡng người Kinh như miếu Thuỷ Tề ở Bạc Liêu, lăng Ông Sông Đốc ở Cà Mau. Đáng chú ý là sự giao lưu giữa dạng thức tín ngưỡng ngư nghiệp (cá Ông) và tín ngưỡng nông nghiệp (Bà Chúa Xứ), thể hiện qua lễ hội Cúng biển Mỹ Long diễn ra tại miễu Bà Chúa Xứ Mỹ Long, huyện Cầu Ngang, Trà Vinh. Những cơ sở tín ngưỡng này mang trong mình giá trị lịch sử, văn hoá và là tiềm năng cho phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực.

Người Hoa đã góp gì vào văn hoá Nam Bộ?

Người Hoa đã đến Việt Nam trong những thời điểm khác nhau, với những lý do dị biệt, và xây dựng những ngôi miếu mang bản sắc văn hoá riêng. Theo TS Hồ Tường, Trường Đại học Bình Dương, những ngôi miếu người Hoa đóng góp một loại hình kiến trúc tín ngưỡng bề thế, màu sắc đỏ thắm, toạ lạc trong lòng các khu vực thị tứ khắp Nam Bộ, nơi người Hoa sống chủ lực bằng nghề kinh doanh.

Qua những ngôi miếu, đời sống tâm linh của cư dân Nam Bộ được bổ sung thêm nhiều vị thần, thánh có chức năng đáp ứng nhu cầu tâm linh. Đi đôi với đối tượng thờ phụng, miếu người Hoa còn mang đến loại hình lễ hội hoành tráng với đoàn rước, ban nhạc lễ, đoàn lân sư rồng. Những ngôi miếu còn toả ra sự gắn kết cộng đồng, từ giúp đỡ trong cuộc sống và kinh doanh đến chung tay xây dựng trường học, bệnh viện, nghĩa trang. Mô hình bang, hội quán từ miếu người Hoa đã ảnh hưởng đến cộng đồng người Việt qua việc hình thành các ban liên lạc đồng hương ở các đô thị lớn từ đầu thế kỷ XX.

Phương ngữ Nam Bộ có đặc điểm gì nổi bật?

Phương ngữ Nam Bộ hình thành gắn với tính cách của những người khai phá vùng đất. Theo bài khảo cứu trên Đại Đoàn Kết, lưu dân vào phương Nam là những người dám nghĩ dám làm, giữa họ có sự đồng cảm chia sẻ đồng hương. Trên cơ sở ấy hình thành một phương ngữ khá khác với phương ngữ nơi họ ra đi. Trong quá trình khai thác, các yếu tố Ấn, Hoa, Khmer, Âu đến và làm giàu thêm vốn phương ngữ.

Về phát âm, phương ngữ Nam Bộ có đặc điểm V, D, GI đều phát âm thành D. Về từ vựng, phương ngữ Nam Bộ giàu hình tượng và thường dùng tiếng đôi bắt đầu bằng một hư từ. Cách nói cường điệu và khuếch đại rất phổ biến, chẳng hạn các cách diễn đạt mức độ nghèo hay mức độ no đều được đẩy lên mức hình ảnh cực đoan nhưng vẫn đượm vẻ lạc quan, hóm hỉnh.

Đặc biệt, do địa hình sông rạch chằng chịt, phương ngữ Nam Bộ có sự đa dạng trong cách gọi dòng nước. Người ta không chỉ phân biệt nước lớn (thuỷ triều dâng) và nước ròng (thuỷ triều hạ) mà còn thêm nhiều từ ngữ khác như nước kém, nước trồi, nước dềnh, nước sụt, nước giựt, nước bò, nước nhảy, nước đứng, nước nằm. Nước cũng biết nhảy, đứng, nằm, bò, chết, vốn là những động tác của sinh vật, nhưng đó là cách tiếp cận sự vật của người Nam Bộ.

Phương tiện đi lại trên sông nước cũng được gọi bằng nhiều cái tên phong phú: ghe bầu, ghe be, ghe cà vom, ghe chài, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe hầu, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, vỏ lải, tắc ráng, tam bản, ba lá. Các loại động vật sống ở sông nước cũng có nhiều tên riêng: tôm bạc, tôm càng, tôm châm, tôm chấu, tôm chì, tôm gọng, tôm hùm, tôm kẹt, tôm lóng, tôm lứa, tôm mắt tre, tôm quỵt, tôm rồng, tôm sắc, tôm sú, tôm thẻ, tôm tích, tôm tu, tôm vang. Mỗi loài đều có tên riêng, cho thấy phương ngữ phải phong phú để đáp ứng tư duy của con người.

Nếp sống mở và văn hoá lai rai

Nếp sống mở của người Nam Bộ thể hiện qua nhiều sinh hoạt thường ngày. Theo bài khảo cứu trên Đại Đoàn Kết, tính tình người Nam Bộ ưa khoái hoạt, không khách sáo, trọng nghĩa khí, ham vui, hào phóng, không chi ly tính toán. Trong ẩm thực, điều này thể hiện qua cái có thể tạm gọi là văn hoá lai rai: ăn không chỉ mang tính tiệc tùng, khách khứa mà còn vì thích lai rai cho vui. Bờ ruộng, sông rạch, nhà lồng chợ đều có thể trở thành không gian lai rai.

Văn hoá lai rai có thể phát triển thành nhậu nhẹt, thường có thêm dăm câu vọng cổ, một chút đờn ca tài tử thể hiện tính khoái hoạt không câu thúc. Tất nhiên, như mọi tập tục, nó cũng có mặt trái khi bị đẩy quá mức. Đây là mô tả thực hành văn hoá, không phải đánh giá con người.

Tết Nam Bộ khác gì Tết Bắc Bộ và Trung Bộ?

Tết Nam Bộ theo ghi chép trong sách Gia Định thành thông chí, công trình địa chí về vùng đất Nam Bộ đầu thế kỷ XIX, trước hết mang ý nghĩa đánh dấu kết thúc một chu kỳ nông nghiệp, là thời điểm lễ tạ ơn trời đất, cúng ông bà tổ tiên. Tục lệ Tết đầu tiên là nhớ đến ông bà, những người đã khai hoang lập ấp: tháng cuối năm cúng tảo mộ, quét dọn bồi đắp phần mộ tổ tiên.

Mâm ngũ quả Nam Bộ theo bài viết trên Nhân Dân gồm cầu, dừa, đủ, xoài, sung hoặc thơm, với ý nghĩa cầu cho vừa đủ tiêu xài, sung túc, thơm tho. Đây là cách chơi chữ đặc trưng, khác với mâm ngũ quả của một số vùng Bắc Bộ và Trung Bộ vốn có cách chọn và ý nghĩa riêng. Tục dựng cây nêu ngày Tết cũng hiện diện ở Nam Bộ: cuối năm mọi nhà dựng cây tre trước cửa lớn, trên buộc giỏ tre đựng trầu cau vôi, bên cạnh treo giấy tiền vàng bạc, đến mùng 7 Tết thì hạ xuống.

Bánh Tết đặc trưng của Nam Bộ là bánh tét, gói bằng lá chuối, tròn và chắc, nhân nằm chính giữa, có cả loại nhân ngọt như chuối và nhân mặn đậu xanh, thịt mỡ. Mâm cơm Tết có thịt kho hột vịt bằng nước dừa, dưa giá, canh khổ qua nhồi thịt, chả giò, các loại thịt nguội. Ngày mùng Ba cúng đưa ông bà thường có đĩa tam sên gồm thịt heo, trứng vịt và tôm càng xanh, đại diện cho các con vật sống trên cạn và dưới nước.

Nghề truyền thống và di sản văn hoá phi vật thể

Nam Bộ có nhiều nghề thủ công truyền thống đã được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Theo bài viết trên VietnamPlus, có thể kể đến nghề làm sơn mài ở làng nghề Tương Bình Hiệp, tỉnh Bình Dương; nghề làm bánh tráng Trảng Bàng ở tỉnh Tây Ninh; nghề dệt chiếu ở xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; nghề làm nước mắm truyền thống ở Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; nghề muối ba khía và nghề gác kèo ong của người dân tỉnh Cà Mau.

Làng nghề dệt chiếu Định Yên nằm cạnh sông Hậu, hình thành từ hàng trăm năm trước, với nguyên liệu là cây bố, cây lác. Sản phẩm có nhiều loại với tên gọi như chiếu vảy ốc, chiếu bông, chiếu con cờ, chiếu trắng, chiếu cổ. Trước đây, làng nghề còn có chợ chiếu họp vào nửa đêm bên dòng sông Hậu, nhiều người quen gọi là chợ ma, phù hợp với tập quán giao thương bằng ghe thuyền.

Bạc Liêu có Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia nghề làm muối. Theo Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Cao Xuân Thu Vân, Bạc Liêu tập trung nhiều nhất ở các xã Vĩnh Hậu, Vĩnh Thịnh thuộc huyện Hoà Bình và các xã Long Điền Đông, Điền Hải, Long Điền Tây thuộc huyện Đông Hải. Hạt muối Bạc Liêu xưa thường được gọi là muối Ba Thắc, vẫn giữ nét riêng là mặn nhưng có vị ngọt hậu, không mặn chát.

Cà Mau có nghề muối ba khía và nghề gác kèo ong ở vùng rừng U Minh, được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Nghề gác kèo ong gắn với kinh nghiệm dân gian truyền qua nhiều thế hệ người dân ở hai huyện U Minh và Trần Văn Thời, với cách gác kèo để ong về làm tổ và khai thác mật theo hai mùa ong hạn, ong nước.

So sánh với các vùng miền khác cần lưu ý điều gì?

Khi so sánh văn hoá Nam Bộ với đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, cần tránh hai thái cực: tuyệt đối hoá sự khác biệt và ngầm xếp hạng hơn kém. Nam Bộ có mật độ thiết chế đình, miếu dày đặc gắn với quá trình khẩn hoang và giao lưu tộc người, trong khi Bắc Bộ có bề dày làng xã với hệ thống đình, đền, chùa ổn định từ lâu. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ mang tính dung hợp cao giữa các tộc người, còn ở Bắc Bộ gắn với hệ thống thần linh và nghi lễ có lịch sử lâu đời hơn.

Phương ngữ Nam Bộ có hệ thống từ ngữ chỉ sông nước và phương tiện đường thuỷ phong phú, phản ánh môi trường sống đặc thù. Phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ có những đặc trưng ngữ âm và từ vựng riêng, không thể lấy một vùng làm chuẩn để đo vùng khác. Các nhà nghiên cứu cũng chưa thống nhất hoàn toàn về nguồn gốc của một số hiện tượng như tục thờ Bà Chúa Xứ, khi có giả thuyết nhấn mạnh yếu tố Chăm, giả thuyết khác nhấn mạnh yếu tố Khmer hoặc quá trình Việt hoá. Bài viết này ghi nhận sự không thống nhất đó thay vì chọn một bên.

Về Tết, mâm ngũ quả và bánh Tết là hai ví dụ rõ cho sự khác biệt có tính vùng miền. Nam Bộ dùng bánh tét, mâm ngũ quả theo cách chơi chữ cầu, dừa, đủ, xoài, sung. Bắc Bộ dùng bánh chưng, mâm ngũ quả với cách chọn và ý nghĩa riêng. Đây là khác biệt về lựa chọn văn hoá trong cùng một khung lễ Tết, không phải sự hơn kém.

Kết luận

Văn hoá Nam Bộ là một cấu trúc mở, được kiến tạo bởi nhiều lớp lưu dân và nhiều tộc người cùng cộng cư. Đình làng và nhà lồng chợ thể hiện sự song hành giữa tín ngưỡng và thương nghiệp. Tín ngưỡng thờ Bà phổ biến nhờ khả năng dung hợp và đáp ứng nhu cầu tâm linh đa dạng. Phương ngữ Nam Bộ giàu hình tượng, phản ánh môi trường sông nước và tính cách phóng khoáng của cư dân khai phá. Những đặc điểm này tạo nên bản sắc riêng trong bức tranh chung của văn hoá Việt Nam, bên cạnh những khác biệt của đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Tín ngưỡng thờ Bà ở Nam Bộ gồm những vị nào?

Các vị Mẫu, Bà được thờ tự tiêu biểu ở Nam Bộ gồm Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Thiên Hậu, Mẹ Quan Âm. Các vị này được thờ chính hoặc phối thờ trong nhiều cơ sở tín ngưỡng, gắn với lễ hội lớn trong năm và mang tính chất cho cả vùng, vượt ra khỏi không gian của một địa phương hay một cộng đồng tộc người cụ thể.

Phương ngữ Nam Bộ có đặc điểm gì khác với phương ngữ Bắc Bộ?

Phương ngữ Nam Bộ có đặc điểm về phát âm như V, D, GI đều phát âm thành D, và có hệ thống từ ngữ chỉ sông nước, phương tiện đường thuỷ rất phong phú do môi trường sống đặc thù. Cách nói cường điệu, khuếch đại và dùng tiếng đôi bắt đầu bằng hư từ cũng phổ biến. Đây là khác biệt về đặc trưng vùng miền, không phải sự hơn kém so với phương ngữ Bắc Bộ.

Đình làng và nhà lồng chợ có vai trò gì trong văn hoá Nam Bộ?

Đình làng là nơi thờ cúng các vị thần, tiên hiền, hậu hiền và là trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Nhà lồng chợ là công trình gắn với đời sống thương hồ, thường nằm sát bến sông. Theo hồi ký của Paul Doumer được dẫn lại, mỗi làng ở Nam Kỳ đều tự hào với hai công trình này, cho thấy sự song hành giữa tín ngưỡng truyền thống và tư duy trọng thương nghiệp.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Văn hoá - Nam Bộ, vùng đất giàu trầm tích văn hoá
  2. Nhân Dân - Phong vị Tết Nam Bộ xưa
  3. Đại Đoàn Kết - Lai rai cùng phương ngữ Nam Bộ
  4. VietnamPlus - Bảo tồn di sản nghề truyền thống ở Nam Bộ

Nội dung này có giúp được bạn không?

#vănhoáNamBộ#đìnhlàng#tínngưỡngthờBà#phươngngữNamBộ#sosánhvùngmiền