Xứ Nghệ là vùng đất nào?
Xứ Nghệ là cách gọi quen thuộc chỉ vùng đất gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay. Trong lịch sử, vùng này từng có nhiều tên gọi khác nhau: Hoan Châu, Nghệ An châu, xứ Nghệ, Nghệ Tĩnh. Từ năm 1976 đến năm 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh mang tên Nghệ Tĩnh, sau đó tách ra thành hai tỉnh như hiện nay.
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Bắc giáp Thanh Hoá, phía Tây giáp Lào với 468km đường biên giới trên bộ, phía Đông giáp biển với đường bờ biển dài 82km. Đây là vùng đất có lịch sử định cư lâu đời, với các di chỉ khảo cổ thuộc Văn hoá Quỳnh Văn cách đây khoảng 6.000 năm và di chỉ Làng Vạc thuộc văn hoá Đông Sơn.
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh có nguồn gốc và đặc điểm thế nào?
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là loại hình diễn xướng dân gian đặc trưng của vùng đất này. Theo thông tin từ Sở Văn hoá và Thể thao Nghệ An, di sản Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hoá Phi vật thể Đại diện của Nhân loại. Đây là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu, phản ánh đời sống lao động, tình cảm và tư duy của người dân xứ Nghệ qua nhiều thế hệ.
Ví và giặm là hai làn điệu có phong cách khác nhau nhưng thường được nhắc đến cùng nhau. Chúng được thực hành trong nhiều bối cảnh: lao động đồng áng, sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, giao duyên. Nội dung thường xoay quanh tình yêu quê hương, gia đình, lao động sản xuất và các mối quan hệ xã hội.
Việc bảo tồn và phát huy dân ca ví, giặm được các cấp chính quyền và ngành văn hoá đặc biệt quan tâm. Nhiều công trình, đề tài khoa học đã được đầu tư nghiên cứu, đề ra giải pháp bảo tồn, đồng thời tôn vinh và tạo điều kiện cho nghệ nhân bảo lưu, thực hành và truyền dạy di sản.
Tục hiếu học của người xứ Nghệ được ghi nhận ra sao?
Nghệ An được biết đến là vùng đất giàu truyền thống hiếu học. Theo tư liệu lịch sử, Nghệ An có nhiều dòng họ, nhiều làng học nổi tiếng, là cái nôi sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, lương thần, nhiều nhà khoa học, nhà văn hoá có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Số người Nghệ Tĩnh đậu đại khoa thời phong kiến (Tiến sỹ trở lên) xếp thứ tư toàn quốc, sau Hải Dương, Bắc Ninh và Hà Nội.
Truyền thống hiếu học này gắn với điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng đất. Đây là vùng đất có bề dày lịch sử, nơi hội tụ nhiều yếu tố văn hoá, đồng thời cũng là nơi người dân phải nỗ lực vươn lên trong điều kiện tự nhiên không ít khó khăn. Việc học được xem trọng như một con đường để phát triển bản thân và đóng góp cho cộng đồng.
Đời sống tín ngưỡng và lễ hội ở Nghệ An có gì đặc sắc?
Theo thống kê của Sở Văn hoá và Thể thao Nghệ An, đến nay toàn tỉnh đã kiểm kê được 463 di sản với đầy đủ 7 loại hình Di sản Văn hoá Phi vật thể, phân bố rộng khắp và có giá trị lịch sử, văn hoá tiêu biểu cho sáu dân tộc: Kinh, Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu.
Nghệ An hiện có 9 Di sản Văn hoá Phi vật thể Quốc gia. Trong số này có các lễ hội tiêu biểu như:
- Lễ hội Đền Cờn (thị xã Hoàng Mai)
- Lễ hội Đền Quả (huyện Đô Lương)
- Lễ hội Đền Chín Gian (huyện Quế Phong)
- Lễ hội Đền Bạch Mã (huyện Thanh Chương)
- Lễ hội Đền Thanh Liệt
- Lễ hội Đền Ông Hoàng Mười (huyện Hưng Nguyên)
- Nghi lễ Xăng Khan của đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An
- Lễ hội Đền Yên Lương (thị xã Cửa Lò)
- Lễ hội Đền Nguyễn Cảnh Hoan (huyện Đô Lương)
Mỗi lễ hội có thời điểm, nghi thức và ý nghĩa riêng. Ví dụ, Lễ hội Đền Yên Lương hay còn gọi là Lễ hội Phúc Lục Ngoạt, diễn ra dịp trung tuần tháng 6 âm lịch, gắn với Di tích Đền Yên Lương ở phường Nghi Thuỷ, thị xã Cửa Lò. Lễ hội được tổ chức 3 năm một lần vào năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 6 âm lịch. Đây là một trong những lễ hội truyền thống quy mô lớn nhất và đặc trưng nhất vùng ven biển xứ Nghệ.
Lễ hội Đền Nguyễn Cảnh Hoan ở xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương được tổ chức nhằm tưởng nhớ công lao của Thái phó Tấn quốc công Nguyễn Cảnh Hoan và các vị nhân thần của dòng họ Nguyễn Cảnh. Ông sinh năm Tân Tỵ 1521, là người văn võ song toàn, trở thành dũng tướng của nhà Lê và lập nhiều công lao khi chinh chiến với quân nhà Mạc. Năm 1576, ông bị thuộc tướng phản bội và bị hại trong ngục, thọ 57 tuổi. Vua Lê cho tổ chức Lễ Quốc tang, năm 1602 truy tặng ông 8 chữ Hùng Nghị Khuông Tế Trạch Dân Đại Vương. Năm Giáp Thìn 1664, triều đình quyết định hàng năm cứ đến ngày Rằm tháng 3 âm lịch tổ chức lễ hội tại đền thờ, cứ 10 năm tổ chức đại lễ gọi là Thập niên Đại Lễ hội.
Các dân tộc ở Nghệ An và sắc thái văn hoá riêng
Theo thống kê từ Sở Văn hoá và Thể thao Nghệ An, sáu dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh gồm Kinh, Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú và Ơ Đu. Mỗi dân tộc có những di sản văn hoá mang sắc thái riêng, góp phần tạo nên bức tranh văn hoá đa dạng của vùng đất này. Các di sản của đồng bào dân tộc thiểu số như nghi lễ Xăng Khan của người Thái đã được ghi nhận là Di sản Văn hoá Phi vật thể Quốc gia.
Bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể ở xứ Nghệ đang gặp những thách thức gì?
Bên cạnh những thành tựu, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể ở Nghệ An còn nhiều khó khăn. Theo đánh giá của ngành văn hoá tỉnh, nguy cơ thất truyền, mai một của nhiều loại hình di sản vẫn hiện hữu. Việc phát huy giá trị các lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế. Công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện và nhân lực cho lĩnh vực này còn khó khăn.
Để giải quyết những thách thức này, tỉnh đã huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo tồn, quản lý tốt hoạt động lễ hội, phong tục, tập quán và các loại hình văn hoá nghệ thuật dân gian. Nhiều di tích được tu bổ, tôn tạo bằng nguồn vốn của Nhà nước và nguồn xã hội hoá. Ngành văn hoá và thể thao cũng phối hợp với ngành du lịch kết nối di sản văn hoá phi vật thể trong các tour du lịch cộng đồng, đưa di sản trở thành sản phẩm quảng bá du lịch, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.
So sánh đặc điểm văn hoá giữa các vùng trong xứ Nghệ
Văn hoá xứ Nghệ không đồng nhất mà có sự khác biệt giữa các vùng. Có thể phân biệt một số khu vực như sau:
| Khu vực | Đặc điểm nổi bật |
|---|---|
| Vùng ven biển | Lễ hội gắn với biển như Lễ hội Đền Yên Lương, Lễ hội Đền Cờn; văn hoá của cư dân ven biển |
| Vùng đồng bằng | Truyền thống hiếu học, nhiều làng học, dòng họ khoa bảng; các lễ hội đền, đình |
| Vùng miền núi | Văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số như Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu; các nghi lễ như Xăng Khan |
Sự khác biệt này phản ánh điều kiện tự nhiên, lịch sử định cư và đặc điểm kinh tế của từng vùng. Các nguồn tư liệu hiện có ghi nhận sự đa dạng này như một đặc điểm tự nhiên của vùng đất, không có sự xếp hạng giữa các khu vực.
Vai trò của văn hoá xứ Nghệ trong đời sống đương đại
Hiện nay, những giá trị văn hoá phi vật thể truyền thống vẫn hiện diện trong cuộc sống của đồng bào các dân tộc tỉnh Nghệ An. Mỗi di sản văn hoá đều mang sắc thái riêng của mỗi dân tộc, tạo nên tiềm năng để phát triển văn hoá, trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Các lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, phong tục, tập quán và nếp sống đẹp của người dân đang được nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục và bảo vệ. Ngành văn hoá và thể thao tiếp tục tham mưu cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách về văn hoá nói chung và di sản văn hoá nói riêng, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của nghệ nhân, nghệ sỹ và nhà nghiên cứu văn hoá.
Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu văn hoá xứ Nghệ
Khi tìm hiểu về văn hoá xứ Nghệ, cần lưu ý rằng đây là một vùng văn hoá rộng lớn, đa dạng, không thể gói gọn trong một vài đặc điểm. Các nguồn tư liệu khác nhau có thể có những cách phân chia, đánh giá khác nhau về các loại hình di sản, lễ hội và đặc điểm văn hoá. Một số thông tin về nguồn gốc, thời điểm ra đời của các làn điệu, lễ hội có thể không hoàn toàn thống nhất giữa các tài liệu nghiên cứu.
Bài viết này dựa trên các nguồn tư liệu chính thống từ VietnamPlus và các cơ quan chức năng của tỉnh Nghệ An. Người đọc nên tham khảo thêm các công trình nghiên cứu chuyên sâu để có cái nhìn đầy đủ hơn về từng khía cạnh cụ thể của văn hoá xứ Nghệ.
