Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Thổ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Thổ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
TL;DR: Dân tộc Thổ là một trong 54 dân tộc Việt Nam, nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường (ngữ hệ Nam Á), cư trú tập trung ở các huyện miền Tây Nghệ An và một phần Thanh Hoá. Người Thổ thờ nhiều loại thần, ma, đặc biệt là các vị thần gắn với việc đánh giặc và khai khẩn đất đai, đồng thời duy trì thờ cúng tổ tiên, cúng bà mụ khi trẻ đau ốm và cúng vía cho người lớn. Các nghi lễ vòng đời như cưới xin, sinh đẻ, ma chay và các dịp lễ tết là những sinh hoạt văn hoá quan trọng, gắn với tín ngưỡng âm lịch và tập quán của từng nhóm địa phương.

Dân tộc Thổ là ai và có nguồn gốc như thế nào?

Dân tộc Thổ là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam, có tên tự gọi là Thổ. Người Thổ còn được biết đến với các tên gọi khác như Người Nhà làng, Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng. Các nhóm địa phương gồm Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng.

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân số người Thổ là 91.430 người. Trước đó, theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, con số này là 74.458 người.

Về lịch sử, địa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm của các luồng di cư xuôi ngược. Do những biến động lịch sử ở những thế kỷ trước, những nhóm người Mường từ miền Tây Thanh Hoá dịch chuyển vào phía Nam gặp gỡ người Việt từ các huyện ven biển Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Thanh Chương ngược lên hoà nhập với cư dân địa phương có thể là gốc Việt cổ ở đây. Những người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy ngày một hoà nhập vào nhau thành một cộng đồng chung dân tộc Thổ.

Người Thổ sống ở đâu?

Người Thổ cư trú tập trung ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An. Họ sống thành những làng bản đông đúc, chủ yếu theo lối mật tập. Ngoài Nghệ An, danh sách các dân tộc Việt Nam cũng ghi nhận địa bàn cư trú của người Thổ ở Thanh Hoá.

Nhà ở truyền thống của người Thổ là loại nhà sàn được che xung quanh bằng liếp nứa hoặc gỗ. Ở một số vùng, nhà lại được làm theo kiểu cột ngoãm. Ngày nay, nhà cửa của họ đang trong quá trình chuyển từ nhà sàn sang nhà đất như kiểu nhà người Việt trong vùng.

Tiếng nói của người Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, ngữ hệ Nam Á. Người Thổ không có văn tự riêng, chỉ một số người biết chữ Hán. Ngày nay, tiếng Việt được phổ cập và sử dụng rộng rãi trong cộng đồng.

Về văn nghệ dân gian, vốn văn nghệ của người Thổ khá đa dạng. Các bài hát đồng dao vẫn được lưu truyền, ca dao, tục ngữ rất phong phú.

Hoạt động sản xuất và đời sống kinh tế của người Thổ ra sao?

Người Thổ sống chủ yếu dựa vào làm nương, rẫy và một số nhỏ làm ruộng nước. Dù làm ruộng hay làm nương, trình độ canh tác của đồng bào đã phát triển khá cao, biểu hiện ở kỹ thuật làm đất với việc dùng cày nương "cà nộn" một cách thành thạo và thâm canh cây trồng.

Cây lương thực được trồng chủ yếu là lúa, sau đó đến sắn và ngô. Ở các nhóm Kẹo, Mọn, Cuối, cây gai được trồng nhiều và giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề đánh cá cũng rất phát triển. Săn bắt và hái lượm tuy chỉ phát triển ở một số vùng nhưng đã góp phần đáng kể vào việc giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống.

Về ăn uống, trước đây người Thổ ăn gạo nếp là chính, nhưng hiện nay hầu hết đã chuyển sang ăn gạo tẻ. Những khi giáp hạt đói kém, họ thường ăn các loại củ, rau và quả hái ở rừng. Trong các ngày lễ, tết, người Thổ thường làm các loại bánh chưng, bánh giầy, bánh gai.

Về phương tiện vận chuyển, người Thổ chủ yếu dùng hai phương thức. Đối với những thứ nhỏ gọn thì có thể mang, xách hoặc cho vào sọt, bồ để gánh. Với những vật nặng, họ dùng sức trâu, bò để kéo xe, trong đó toàn bộ khung và bánh xe đều được làm bằng gỗ.

Trang phục truyền thống của người Thổ có gì đáng chú ý?

Đàn ông mặc tương tự người Việt với chiếc quần trắng cạp vấn, áo dài lương đen và đầu đội khăn nhiễu tím.

Phụ nữ vùng Lâm La mặc váy vải sợi bông màu đen, có thêu hai đường chỉ màu từ cạp tới gấu váy, mặc áo 5 thân màu nâu hoặc trắng. Ở vùng Quỳ Hợp, váy phụ nữ thường được mua hoặc đổi của người Thái. Váy bằng vải sợi bông nhuộm chàm, dệt kẻ sọc ngang, khi mặc những đường sọc đó tạo thành vòng tròn song song quanh thân. Áo cánh trắng cổ viền, tay hẹp như áo cánh người Việt. Phụ nữ đều đội khăn vuông trắng giống như người Mường và để tang bằng khăn dài trắng giống người Việt.

Điểm đáng chú ý là phong tục của người Thổ rất đa dạng, nhiều khi trái ngược nhau. Ở nhiều dân tộc khác, khăn trắng là dấu hiệu nhà có tang, nhưng ở người Thổ và người Mường, khăn trắng được sử dụng hàng ngày để tôn vẻ đẹp của trang phục.

Tổ chức xã hội và hôn nhân của người Thổ

Đơn vị hành chính nhỏ nhất trước kia của người Thổ là làng, với một ông trùm làng đứng đầu. Trùm làng được bầu lại hàng năm và có nhiệm vụ đốc thúc công việc sưu dịch, thuế khoá, giải quyết các vụ việc xảy ra trong phạm vi của làng.

Gia đình nhỏ phụ quyền là chủ yếu. Mối quan hệ trong gia đình cũng như làng xóm là tình tương trợ hữu ái. Tuy sống xen cài giữa nhiều dân tộc, nhưng việc kết hôn giữa người Thổ với các dân tộc lân cận dường như không đáng kể, song quan hệ hôn nhân giữa các nhóm Thổ với nhau lại không có sự phân biệt nào.

Về cưới xin, tục ngủ mái thịnh hành trong các nhóm Thổ vùng Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp nhưng lại vắng bóng ở các nhóm Thổ vùng Tương Dương, Con Cuông. Từ những đêm ngủ mái, các đôi nam nữ tìm hiểu nhau dẫn đến xây dựng gia đình. Hôn lễ của người Thổ phải qua nhiều bước. Thông thường khi cưới, nhà trai phải dẫn một con trâu, 100 đồng bạc trắng, 30 vuông vải, 6 thúng xôi, một con lợn. Nhiều vùng còn có tục ở rể.

Tập tục thờ cúng của người Thổ gồm những gì?

Người Thổ thờ rất nhiều loại thần, ma, đặc biệt là các vị thần có liên quan đến việc đánh giặc và khai khẩn đất đai. Trong phạm vi gia đình, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn làm lễ cúng bà mụ mỗi khi trẻ em đau ốm và cúng vía cho người lớn vào dịp lễ, tết, khi đau ốm.

Những vong hồn không được cúng trong nhà thì được lập miếu cúng ở ngoài trời. Nơi thờ các cô gái chết trước tuổi thành niên được biểu trưng bằng những cột gỗ.

Người Thổ theo âm lịch trong sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống thường ngày.

Nghi lễ vòng đời: sinh đẻ, cưới xin và ma chay

Về sinh đẻ, khi sinh được 3 ngày thì cúng bà mụ để đặt tên cho con. Người mẹ phải kiêng cữ trong vòng một tháng, trong tháng đó người lạ không được vào nhà.

Về ma chay, lễ tang được tổ chức khá linh đình và tốn kém. Trước đây có nhà đã giết tới 12 con trâu, người chết được quàn trong nhà hàng tuần. Quan tài của người Thổ là một cây gỗ nguyên, đục bụng, giống như cách làm thuyền, làm máng đập lúa. Khi đặt quan tài, phía chân được đặt xuôi theo dòng nước chảy. Sau khi chôn cất, người ta cúng người chết vào dịp 30 ngày, 50 ngày và 100 ngày.

Điểm đáng chú ý là nhiều dân tộc có tục làm nhà táng cho người chết ở thế giới bên kia, hiến nhà táng bằng cách đốt hoặc để nguyên. Người Thổ không đốt mà đặt nhà táng ngay bên cạnh mộ.

Lễ hội và trò chơi dân gian của người Thổ

Các dịp lễ, tết là thời điểm quan trọng trong đời sống văn hoá của người Thổ. Trong các ngày này, họ thường làm các loại bánh chưng, bánh giầy, bánh gai, đồng thời thực hiện các nghi lễ cúng vía cho người lớn.

Các trò chơi dân gian gồm kéo co, múa sư tử, chơi cờ tướng. Trẻ em thích chơi đá cầu và đánh cù. Đây là những sinh hoạt cộng đồng gắn với các dịp lễ hội, góp phần gìn giữ vốn văn hoá truyền thống của dân tộc.

Bảng tóm tắt thông tin cơ bản về dân tộc Thổ

Tiêu chíThông tin
Tên tự gọiThổ
Tên gọi khácNgười Nhà làng, Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng
Nhóm địa phươngKẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng
Dân số91.430 người (Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019)
Ngôn ngữNhóm ngôn ngữ Việt Mường (ngữ hệ Nam Á)
Địa bàn cư trúCác huyện miền Tây Nghệ An, Thanh Hoá
Nhà ở truyền thốngNhà sàn che bằng liếp nứa hoặc gỗ, có nơi làm theo kiểu cột ngoãm
Hoạt động sản xuất chínhLàm nương, rẫy, một số nhỏ làm ruộng nước, đánh cá
Tín ngưỡng chínhThờ thần, ma, tổ tiên, cúng bà mụ, cúng vía
LịchÂm lịch
Trò chơi dân gianKéo co, múa sư tử, cờ tướng, đá cầu, đánh cù

Vị trí của dân tộc Thổ trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam

Theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979, Việt Nam công nhận 54 dân tộc. Dân tộc Thổ là một trong 54 dân tộc này, đứng thứ 21 trong danh sách các dân tộc Việt Nam.

Các dân tộc thiểu số hiện nay sinh sống khắp các vùng miền của cả nước nhưng chủ yếu vẫn ở các vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Dân tộc Thổ cùng các dân tộc khác ở khu vực Bắc Trung Bộ góp phần tạo nên bức tranh đa dạng văn hoá của vùng đất này.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Thổ nói tiếng gì?

Tiếng nói của người Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, ngữ hệ Nam Á. Người Thổ không có văn tự riêng, chỉ một số người biết chữ Hán, và ngày nay tiếng Việt được phổ cập và sử dụng rộng rãi.

Người Thổ thờ cúng những gì?

Người Thổ thờ rất nhiều loại thần, ma, đặc biệt là các vị thần liên quan đến việc đánh giặc và khai khẩn đất đai. Trong gia đình, họ thờ cúng tổ tiên, làm lễ cúng bà mụ khi trẻ em đau ốm và cúng vía cho người lớn vào dịp lễ, tết hoặc khi đau ốm. Những vong hồn không được cúng trong nhà thì được lập miếu cúng ở ngoài trời.

Dân tộc Thổ cư trú chủ yếu ở đâu?

Người Thổ cư trú tập trung ở các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, sống thành những làng bản đông đúc theo lối mật tập. Ngoài ra, danh sách các dân tộc Việt Nam cũng ghi nhận địa bàn cư trú của người Thổ ở Thanh Hoá.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc (cema.gov.vn)
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
  3. Dân tộc miền núi (Báo Tin tức)
  4. Báo Nhân Dân

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcThổ#54dântộcViệtNam#NghệAn#nhómngônngữViệtMường#thờcúng