Nhật Nguyệt

Tìm kiếm

Kết quả cho "dân tộc Lô Lô"

Bài viết kiến thức (40)

Tín ngưỡng dân gian
Tín ngưỡng dân gian

Lễ Cầu mưa, lễ Rửa làng trong Ngày hội văn hóa dân tộc Lô Lô

Tìm hiểu ý nghĩa và nghi thức tái hiện lễ Cầu mưa, lễ Rửa làng của người Lô Lô tại Mèo Vạc, Hà Giang trong Ngày hội Văn hóa dân tộc Lô Lô 2024.

Dân tộc Lô Lô: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Lô Lô: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, cư trú chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, có hai nhóm Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen cùng nhiều tập tục riêng.

Trang phục truyền thống
Trang phục truyền thống

Trang phục thổ cẩm rực rỡ của người Lô Lô ở Hà Giang

Trang phục thổ cẩm của người Lô Lô ở Hà Giang nổi bật với kỹ thuật thêu vá thủ công tinh xảo, màu sắc rực rỡ và những bộ phận mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc.

Thờ cúng tổ tiên
Thờ cúng tổ tiên

Lễ cúng tổ tiên với điệu múa "Ma cỏ" độc đáo của người Lô Lô

Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô ở Hà Giang, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nổi bật với điệu múa Ma cỏ, người dẫn đường cho tổ tiên về dự lễ.

Bản đồ sao cổ khắc trên bia đá Tô Châu, thể hiện các chòm sao quanh thiên cực Bắc.
Tử vi

Nạp âm Lộ Bàng Thổ trong Lục Thập Hoa Giáp là gì, ý nghĩa Ngũ Hành

Nạp âm Lộ Bàng Thổ trong Lục Thập Hoa Giáp: đặc tính, hợp khắc, màu sắc và ý nghĩa ngũ hành của hành Thổ, giúp bạn ứng dụng đúng nguyên lý trong tử vi.

Bìa bài viết "Nhà Rông trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên" thuộc chủ đề Phong tục dân tộc thiểu số trên Nhật Nguyệt
Phong tục dân tộc thiểu số

Nhà Rông trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên

Khám phá vai trò trung tâm của nhà Rông trong đời sống tín ngưỡng, quản trị cộng đồng và sản xuất của các dân tộc Tây Nguyên như Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng.

Pháo hoa rực rỡ trên bầu trời đêm Hà Nội
Phong tục lễ tết

Nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi "Tết Nguyên Đán"

Giải mã nguồn gốc chữ "Tết" từ "Tiết", ý nghĩa "Nguyên Đán", lịch sử hình thành Tết cổ truyền Việt Nam và những góc nhìn học thuật về nguồn gốc ngày Tết.

Dân tộc Xtiêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Xtiêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.

Dân tộc Dao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Dao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Dao trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, các nhóm địa phương, tập tục thờ cúng và lễ cấp sắc.

Xem tướng
Xem tướng

Nốt ruồi ở lông mày: Ý nghĩa theo nhân tướng học dân gian

Nốt ruồi ở lông mày theo nhân tướng học dân gian: vị trí đầu, giữa hay đuôi cùng màu sắc, kích thước hé lộ điều gì về tính cách, sự nghiệp và vận mệnh?

Bìa bài viết "Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông toàn quốc: Sắc màu vùng cao hội tụ" thuộc chủ đề Lễ hội truyền thống trên Nhật Nguyệt
Lễ hội truyền thống

Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông toàn quốc: Sắc màu vùng cao hội tụ

Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông toàn quốc quy tụ 11 tỉnh thành, tôn vinh bản sắc vùng cao qua các hoạt động truyền thống, góp phần bảo tồn văn hóa Mông.

Dân tộc Mnông: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mnông: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.

Dân tộc Chứt: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chứt: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.

Dân tộc Nùng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Nùng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Nùng.

Dân tộc Ngái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ngái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Dân tộc Kháng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Kháng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Kháng cư trú lâu đời ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Sơn La, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ cúng tổ tiên và có lễ hội riêng.

Dân tộc Ba Na: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ba Na: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ba Na cư trú ở Gia Lai, Kon Tum và miền tây Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà; nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me và giữ nhiều lễ hội cộng đồng.

Dân tộc Brâu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Brâu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.

Dân tộc Giáy: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Giáy: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.

Dân tộc Pu Péo: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Pu Péo: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Pu Péo có 903 người theo điều tra 2019, cư trú tại Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai. Tìm hiểu tập tục thờ cúng, cưới xin, ma chay và lễ tết.

Dân tộc Lự: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Lự: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.

Dân tộc Gia Rai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Gia Rai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.

Dân tộc Tà Ôi: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Tà Ôi: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Tà Ôi sống ở tây Quảng Trị và tây Thừa Thiên Huế, nói nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, thờ cúng đa thần và có lễ hội gắn với chu kỳ canh tác rẫy.

Dân tộc Pà Thẻn: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Pà Thẻn: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Pà Thẻn thuộc ngữ hệ Hmông-Dao, cư trú tại Hà Giang và Tuyên Quang, nổi bật với thờ cúng tổ tiên, lễ cơm mới và nghề dệt thổ cẩm truyền thống.

Dân tộc Cơ Ho: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cơ Ho: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cơ Ho cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, theo chế độ mẫu hệ, thờ thần Yang và ma Chà, có lễ ăn Tết đâm trâu sau mùa thu hoạch.

Dân tộc Giẻ Triêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Giẻ Triêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.

Dân tộc Xinh Mun: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Xinh Mun: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Sơn La và Lai Châu, có tục ở rể, thờ cúng tổ tiên hai đời và lễ cúng bản hằng năm.

Dân tộc Chơ Ro: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chơ Ro: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chơ Ro cư trú chủ yếu ở vùng núi thấp Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có lễ cúng thần lúa và lễ cúng thần rừng tổ chức ba năm một lần.

Dân tộc Thái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Thái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.

Dân tộc Mảng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mảng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mảng thuộc 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me. Bài viết điểm lại nguồn gốc, tập tục thờ cúng và lễ hội chính.

Dân tộc Cống: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cống: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cống là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ hội riêng.

Dân tộc Xơ Đăng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Xơ Đăng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Xơ Đăng gồm các nhóm Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thờ thần nước, thần lúa.

Dân tộc Hà Nhì: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hà Nhì: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.

Dân tộc Mạ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mạ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.

Dân tộc La Hủ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc La Hủ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc La Hủ nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở Mường Tè, Lai Châu, với tập tục thờ cúng tổ tiên và các lễ hội như tết tháng bảy, cơm mới.

Dân tộc Khơ Mú: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Khơ Mú: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me, cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam, có hệ thờ cúng năm loại ma và tết cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch.

Dân tộc Co: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Co: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.

Dân tộc Mường: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mường: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.

Dân tộc Hrê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hrê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.

Dân tộc Cơ Tu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cơ Tu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cơ Tu cư trú ở miền núi Quảng Nam và Thừa Thiên Huế, nói tiếng thuộc ngữ hệ Nam Á, có nhà Gươl, lễ đâm trâu và tục dồn mồ đặc sắc.