Dân tộc Dao là ai và có nguồn gốc từ đâu?
Dân tộc Dao là một trong 54 dân tộc Việt Nam, có tên tự gọi là Kìm Miền, Kìm Mùn, nghĩa là người rừng, và tên gọi khác là Mán. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân số người Dao là 891.151 người.
Về lịch sử, người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bàn Hồ, còn gọi là Bàn vương, một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, Dao là dân tộc thứ chín, với các nhóm địa phương gồm Dao Đại Bản, Dao Đỏ, Dao Cóc Ngáng, Dao Cóc Mùn, Dao Lô Gang, Dao Quần Chẹt, Dao Tam Đảo, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Làn Tiẻn và Dao áo Dài.
Người Dao sống ở đâu?
Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên, một số nhóm như Dao Quần Trắng ở thung lũng, còn Dao Đỏ lại ở trên núi cao.
Theo danh sách các dân tộc Việt Nam, địa bàn cư trú của người Dao gồm Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Hoà Bình và Hà Tây.
Thôn xóm của người Dao phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Tiếng nói của người Dao thuộc ngữ hệ nào?
Tiếng nói của người Dao thuộc ngữ hệ Hmông - Dao. Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán và chữ Nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện và thơ.
Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt. Đây là yếu tố quan trọng trong việc xác định thời điểm tổ chức các nghi lễ và mùa vụ.
Các nhóm địa phương của dân tộc Dao có gì khác nhau?
Các nhóm Dao phân biệt chủ yếu qua trang phục và địa bàn sinh sống. Dưới đây là bảng đối chiếu một số nhóm địa phương theo nguồn của Trung tâm Chuyển đổi số, Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
| Nhóm địa phương | Tên gọi khác | Đặc điểm ghi nhận |
|---|---|---|
| Dao Đỏ | Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Đại bản | Thổ canh hốc đá, ở trên núi cao |
| Dao Quần chẹt | Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn | Thuộc nhóm Dao phổ biến ở vùng lưng chừng núi |
| Dao Lô gang | Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn | Một trong các nhóm Dao ở miền núi phía bắc |
| Dao Tiền | Dao Đeo tiền, Dao Tiểu bản | Có nghề làm giấy bản |
| Dao Quần trắng | Dao Họ | Ở thung lũng, chuyên làm ruộng nước |
| Dao Thanh Y | Chuyên làm ruộng nước | |
| Dao Làn Tẻn | Dao Tuyển, Dao áo dài | Chuyên làm ruộng nước |
Sự phân chia này mang tính tương đối, bởi các nhóm có thể cùng sinh sống xen kẽ ở một địa bàn và có những nét văn hoá giao thoa.
Người Dao làm những nghề gì để mưu sinh?
Nương, thổ canh hốc đá và ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên.
Cụ thể, người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Đỏ làm thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai. Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm. Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu.
Nhóm Dao Đỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Tập tục thờ cúng của người Dao có gì đặc biệt?
Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp, vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Đạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình.
Theo truyền thống, tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. Đây là nghi lễ vừa mang tính chất của Đạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ. Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Đặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Lễ cấp sắc là gì và diễn ra như thế nào?
Lễ cấp sắc là nghi lễ truyền thống của những người đàn ông Dao đến tuổi trưởng thành. Đây là nghi lễ đánh dấu việc người đàn ông được công nhận là thành viên chính thức trong cộng đồng và có vai trò trong các nghi lễ tôn giáo.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba là lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Thầy tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết, con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt.
Người Dao cưới xin và sinh đẻ theo tục lệ nào?
Trong hôn nhân, trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Về sinh đẻ, phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ, người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Trang phục và hoa văn của người Dao có gì độc đáo?
Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. Áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục rất sặc sỡ. Họ không theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây.
Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì, người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm. Phụ nữ Dao Đỏ búi tóc vấn khăn lên đỉnh đầu, trang phục phần cổ áo thêu hoa văn sặc sỡ, riêng chiếc yếm ngực còn gắn những bông hoa tám cánh chạm bằng bạc.
Văn nghệ dân gian và trò chơi của người Dao gồm những gì?
Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Đặc biệt, truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ và Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo. Về phương tiện vận chuyển, người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Người Dao ăn uống và sinh hoạt hằng ngày ra sao?
Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo.
Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ta kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay. Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Việc chọn đất làm nhà của người Dao diễn ra thế nào?
Muốn làm nhà, người Dao phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng.
Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hố, các hạt gạo vẫn giữ nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Nguồn gốc và các nhóm địa phương của người Dao nhìn từ danh mục chính thức
Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, Dao là một dân tộc với nhiều nhóm địa phương. Điều quan trọng là phân biệt rõ: các nhóm như Dao Đỏ, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y là các nhóm địa phương trong cùng dân tộc Dao, không phải các dân tộc riêng biệt.
Cách phân loại này thống nhất với Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê, theo đó Việt Nam có đúng 54 dân tộc. Các tên gọi như Mán, Động, Trại, Dìu, Miền, Kiềm, Kìm Mùn là tên gọi khác đã từng được dùng để chỉ người Dao.
Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu về dân tộc Dao
Các thông tin về dân số người Dao có sự khác nhau giữa các lần điều tra. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số người Dao là 751.067 người. Theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, con số này là 891.151 người. Sự chênh lệch phản ánh tăng dân số tự nhiên và phương pháp điều tra khác nhau.
Khi tìm hiểu về tập tục của người Dao, cần lưu ý rằng các mô tả trong nguồn thường dựa trên ghi nhận ở một số địa phương hoặc một số nhóm cụ thể. Không nên gán toàn bộ các tập tục được nêu cho mọi nhóm Dao ở mọi địa bàn, bởi giữa các nhóm và các vùng có sự khác biệt trong thực hành văn hoá.
