Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Sán Dìu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Sán Dìu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Ảnh: Wikimedia Commons (Public Domain/CC0)

TL;DR: Sán Dìu là một trong 54 dân tộc của Việt Nam, tên tự gọi là San Déo Nhín, nói thổ ngữ Hán Quảng Đông thuộc ngữ hệ Hán Tạng, cư trú tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ từ tả ngạn sông Hồng trở về phía Đông. Bàn thờ truyền thống thường có ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân, ngoài ra còn thờ thổ thần ở miếu và thành hoàng ở đình. Đời sống văn hoá gắn với hát giao duyên soọng cô và các nghi lễ vòng đời như lễ khai hoa tửu trong cưới xin, tục bò quanh huyệt khi hạ huyệt trong tang ma.

Dân tộc Sán Dìu là ai và tên gọi của họ có từ đâu?

Dân tộc Sán Dìu là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam, có tên tự gọi là San Déo Nhín, nghĩa là Sơn Dao Nhân. Tên gọi khác được ghi nhận gồm Trại, Trại Đất, Sán Dợo, Mán Quần Cộc, Mán Váy Xẻ. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân số Sán Dìu là 183.004 người; trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 146.821 người.

Về nguồn gốc, các nguồn tư liệu hiện có đều ghi nhận người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay. Đây là thông tin được thống nhất giữa các nguồn tham khảo, không có sự khác biệt đáng kể về mốc thời gian.

Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, Sán Dìu được xếp là một dân tộc riêng, không phải một nhóm địa phương hay một ngành của dân tộc khác. Các tên gọi như Trại, Mán Quần Cộc, Mán Váy Xẻ là cách gọi khác đã từng lưu hành trong văn viết và trong đời sống, nay được ghi lại để nhận diện.

Người Sán Dìu sống ở đâu?

Người Sán Dìu sống tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ, trong khu vực từ tả ngạn sông Hồng đổ về phía Đông. Địa bàn cư trú được ghi nhận gồm Quảng Ninh, Hà Bắc, Hải Hưng, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Tuyên Quang theo danh mục của Chính phủ.

Về hình thức cư trú, làng xóm của người Sán Dìu được mô tả tựa như làng người Việt, có luỹ tre bao bọc, giữa các nhà thường có tường hoặc hàng rào. Nhà ở phổ biến là nhà đất trình tường hoặc thưng ván. Đây là kiểu cư trú gắn với địa hình trung du, nơi có đất cứng, nhiều sỏi đá.

Cần lưu ý rằng mô tả về địa bàn cư trú trong các nguồn hành chính thường dùng tên đơn vị hành chính tại thời điểm công bố. Một số tên như Hà Bắc, Hải Hưng, Bắc Thái, Vĩnh Phú là các tỉnh cũ, nay đã được điều chỉnh địa giới. Khi tra cứu, người đọc nên đối chiếu với bản đồ hành chính hiện hành để xác định đúng khu vực.

Tiếng nói của người Sán Dìu thuộc ngữ hệ nào?

Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Đông, thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Đây là thông tin được cả ba nguồn tư liệu dân tộc ghi nhận thống nhất.

Về chữ viết, trước kia thanh niên Sán Dìu thường học chữ Hán để làm thầy cúng. Hiện nay, theo ghi nhận của nguồn tư liệu, còn rất ít người biết chữ Hán. Đây là một điểm đáng chú ý khi tìm hiểu về khả năng truyền dạy và bảo tồn các văn bản nghi lễ cổ.

Việc xác định ngữ hệ Hán Tạng giúp phân biệt tiếng Sán Dìu với các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ khác trong khu vực. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: thổ ngữ Hán Quảng Đông mà người Sán Dìu sử dụng không đồng nhất với tiếng Hán phổ thông, cũng không đồng nhất với tiếng Quảng Đông hiện đại đang dùng ở Trung Quốc.

Tập tục thờ cúng của người Sán Dìu có gì đặc biệt?

Trên bàn thờ của người Sán Dìu thường đặt ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân. Nếu chủ nhà chưa được cấp sắc thì bàn thờ chỉ có hai bát hương. Những người mới chết chưa kịp làm ma cũng được đặt bát hương lên bàn thờ nhưng để thấp hơn. Ngoài ra, người Sán Dìu còn thờ thổ thần ở miếu và thờ thành hoàng ở đình.

Điểm đáng chú ý là sự phân biệt giữa hai bát hương và ba bát hương gắn với tình trạng cấp sắc của chủ nhà. Đây là một cơ chế phân tầng trong thực hành tín ngưỡng, phản ánh vai trò của thầy cúng và hệ thống cấp sắc trong đời sống tâm linh của cộng đồng.

Bộ đồ nghề của thầy cúng Sán Dìu được ghi nhận gồm án, lệnh bài, sách cúng, tù và và thẻ xin âm dương. Sự hiện diện của sách cúng cho thấy nghi lễ Sán Dìu gắn với văn bản chữ Hán, và điều này giải thích vì sao việc học chữ Hán trước kia lại gắn với mục đích làm thầy cúng.

Lễ hội và các nghi lễ vòng đời chính của người Sán Dìu

Theo nguồn tư liệu, người Sán Dìu có hát giao duyên nam nữ gọi là soọng cô, thường được hát về đêm, có những cuộc hát kéo dài suốt nhiều đêm. Đây là sinh hoạt văn nghệ dân gian được ghi nhận song song với các nghi lễ vòng đời.

Về lễ tết, người Sán Dìu có những ngày tết như nhiều dân tộc trong vùng. Riêng tết Đông chí mang thêm ý nghĩa cầu mong con đàn cháu đống. Tập tục liên quan được ghi nhận: những người đã lấy nhau lâu mà chưa có con thì sau khi ăn tết xong, người vợ về nhà bố mẹ đẻ ở, người chồng cho ông mối đến hỏi và sau đó tổ chức cưới lại như cưới vợ mới.

Về cưới xin, nam nữ được tự do yêu đương nhưng việc thành vợ thành chồng còn tuỳ thuộc vào số mệnh và sự quyết định của bố mẹ. Đám cưới gồm nhiều nghi lễ, đáng chú ý nhất là lễ khai hoa tửu diễn ra tại nhà gái trước hôm cô dâu về nhà chồng. Trong lễ này, người ta lấy một bình rượu và một cái đĩa, trên đĩa lót hai miếng giấy cắt hoa, miếng trắng để dưới, miếng đỏ để trên, đặt lên đĩa hai quả trứng luộc có xâu chỉ đỏ và buộc ở mỗi bên trứng hai đồng xu. Sau khi cúng thì bóc trứng lấy lòng đỏ hoà với rượu để mọi người uống mừng hạnh phúc của cô dâu chú rể.

Về tang ma, khi hạ huyệt, con cái phải từ phía chân quan tài bò một vòng quanh miệng huyệt. Con trai bò từ trái sang phải, con gái bò từ phải sang trái, vừa bò vừa xô đất lấp huyệt. Lúc đứng dậy, mỗi người vốc một nắm đất và chạy thật nhanh về nhà bỏ vào chuồng trâu, chuồng lợn với ý nghĩa cho gia súc sinh sôi nảy nở. Tiếp đó chạy vào nhà và ngồi xuống thúng thóc, với quan niệm ai dính nhiều thóc là may mắn. Cuối cùng, mỗi người tự xé lấy một miếng thịt gà luộc để ăn, ai đến trước nhất được mào gà, tiếp theo được đầu, cổ, cánh. Nhà mồ có mái bằng, lợp lá rừng. Khi cải táng, xương được xếp vào tiểu hoặc chum theo tư thế ngồi, và nếu chưa chọn được ngày tốt thì chôn tạm ở chân đồi hay bờ ruộng.

Về nhà mới, mỗi khi có ai làm nhà thì mọi người trong họ, trong làng tự đến giúp đỡ, chủ nhân không cần phải mời. Trong lễ lên nhà mới, chủ nhà mời người cao tuổi trong họ đem lửa, bình vôi và ít hạt giống vào nhà.

So sánh các nghi lễ Sán Dìu qua bảng tra cứu

Nghi lễThời điểmĐặc điểm chínhÝ nghĩa được ghi nhận
Khai hoa tửuTại nhà gái, trước hôm cô dâu về nhà chồngBình rượu, đĩa lót giấy cắt hoa trắng dưới đỏ trên, hai quả trứng luộc xâu chỉ đỏ, mỗi bên trứng buộc hai đồng xu; sau cúng bóc trứng lấy lòng đỏ hoà rượuUống mừng hạnh phúc cô dâu chú rể
Hạ huyệtKhi mai tángCon trai bò từ trái sang phải, con gái bò từ phải sang trái quanh miệng huyệt, vừa bò vừa xô đất lấp huyệtNghi thức tiễn biệt và gắn kết con cái với phần mộ
Vốc đất chạy về chuồngNgay sau khi hạ huyệtMỗi người vốc một nắm đất, chạy nhanh về bỏ vào chuồng trâu, chuồng lợnCầu cho gia súc sinh sôi nảy nở
Ngồi thúng thócSau khi về nhàChạy vào nhà, ngồi xuống thúng thócAi dính nhiều thóc là may mắn
Chia thịt gà luộcCuối nghi lễ tangMỗi người tự xé một miếng thịt gà luộc; ai đến trước nhất được mào gà, tiếp theo được đầu, cổ, cánhPhân định thứ tự theo mức độ may mắn
Lên nhà mớiKhi làm nhà xongNgười cao tuổi trong họ đem lửa, bình vôi, ít hạt giống vào nhàKhởi đầu cuộc sống ở nhà mới
Tết Đông chíDịp tết Đông chíCầu mong con đàn cháu đống; người lấy nhau lâu chưa có con thì vợ về nhà bố mẹ đẻ, sau đó cưới lại như cưới vợ mớiCầu tự

Trang phục và đời sống kinh tế của người Sán Dìu

Bộ y phục truyền thống của phụ nữ Sán Dìu gồm khăn đen, áo dài đơn hoặc kép. Nếu là áo kép thì chiếc bên trong luôn màu trắng, chiếc bên ngoài màu chàm dài hơn một chút. Kèm theo là yếm màu đỏ, thắt lưng màu trắng, hồng hoặc xanh lơ, váy hai mảnh rời cùng chung một cạp chỉ dài quá gối có màu chàm, xà cạp màu chàm và xà cạp màu trắng. Đồ trang trí gồm vòng cổ, vòng tay, hoa tai và dây xà tích bằng bạc. Chiếc váy quấn gồm hai mảnh cùng gắn vào một cạp được ghi nhận là một nét đặc trưng văn hoá của người Sán Dìu.

Nam giới ăn mặc như người Việt: búi tóc vấn khăn hoặc đội khăn xếp, áo dài thâm, quần trắng.

Về hoạt động sản xuất, người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính. Ngoài lúa, ngô, khoai, sắn, họ còn trồng nhiều cây có củ. Từ rất lâu họ đã biết dùng phân bón ruộng. Nhờ đắp thêm mũi phụ, lưỡi cày của họ trở nên bền, sắc và thích hợp hơn với việc cày ở nơi đất cứng, nhiều sỏi đá.

Về ăn uống, người Sán Dìu ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng.

Về phương tiện vận chuyển, ngoài gánh, người Sán Dìu còn sử dụng xe quệt làm phương tiện chính. Xe làm bằng tre, gỗ, do trâu kéo, dùng để vận chuyển mọi thứ từ thóc lúa, củi đuốc đến phân bón. Do không có bánh bên, xe quệt có thể sử dụng ở nhiều loại địa hình khác nhau.

Vài nét về quan hệ xã hội và lịch pháp

Trước Cách mạng tháng Tám, ruộng đất ở vùng Sán Dìu đã tư hữu hoá và xã hội đã có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Địa chủ và phú nông nắm giữ nhiều ruộng đất và bóc lột các tầng lớp nông dân lao động dưới hình thức phát canh thu tô, thuê mướn nhân công và cho vay nặng lãi. Bên cạnh bộ máy chính quyền, ở các làng còn có người đứng đầu làng do dân bầu ra để quản lý công việc chung.

Người Sán Dìu theo âm lịch. Đây là điểm chung với nhiều dân tộc khác trong khu vực.

Người Sán Dìu trong bức tranh 54 dân tộc Việt Nam

Theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979, Việt Nam công nhận 54 dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm hơn 85,4% tổng dân số toàn quốc; 53 dân tộc còn lại được gọi là thiểu số, chiếm khoảng 14,6% tổng dân số cả nước. Sán Dìu nằm trong nhóm 53 dân tộc thiểu số này.

Các dân tộc thiểu số sinh sống khắp các vùng miền nhưng chủ yếu ở vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu vùng xa, tập trung chủ yếu ở một số tỉnh khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ. Sán Dìu thuộc nhóm cư trú ở trung du Bắc Bộ, không thuộc nhóm miền núi cao.

Một số dân tộc như Khmer, Chăm, Hoa sinh sống tập trung ở vùng đồng bằng và các đô thị, các dân tộc thiểu số còn lại sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi có địa hình phức tạp, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiên tai. Đây cũng là vùng kinh tế xã hội có xuất phát điểm thấp, đời sống vật chất và tinh thần còn có khoảng cách so với mặt bằng chung của cả nước. Trong bối cảnh đó, các giá trị văn hoá truyền thống có xu hướng mai một, và việc ghi chép, tra cứu các đặc trưng văn hoá như tiếng nói, tập tục thờ cúng, nghi lễ vòng đời của từng dân tộc có vai trò như một phần của công tác lưu giữ tri thức.

Những điểm cần lưu ý khi tra cứu về người Sán Dìu

Các nguồn tư liệu dân tộc hiện có phần lớn được biên soạn từ một nguồn gốc chung, sau đó được các cổng thông tin khác nhau dẫn lại. Vì vậy, khi thấy các trang khác nhau mô tả giống nhau về người Sán Dìu, điều đó thường phản ánh việc dẫn lại cùng một nguồn, không phải nhiều nguồn độc lập cùng xác nhận.

Số liệu dân số có sự khác biệt giữa các thời điểm điều tra: 146.821 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, và 183.004 người theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019. Khi trích dẫn, cần ghi rõ năm và tên cuộc điều tra để tránh nhầm lẫn.

Về địa danh, các danh mục hành chính cũ như Hà Bắc, Hải Hưng, Bắc Thái, Vĩnh Phú không còn tồn tại trong hệ thống đơn vị hành chính hiện hành. Người đọc nên đối chiếu với bản đồ hành chính hiện tại khi cần xác định địa bàn cụ thể.

Về phạm vi mô tả, các nguồn tư liệu trình bày tập tục của người Sán Dìu ở mức khái quát cho cả dân tộc. Trên thực tế, tập tục có thể có khác biệt giữa các địa phương và giữa các nhóm cư trú. Việc ghi nhận sự khác biệt này là cần thiết, tránh áp đặt một khuôn mẫu duy nhất cho toàn bộ cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Sán Dìu nói tiếng gì?

Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Đông, thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Trước kia thanh niên thường học chữ Hán để làm thầy cúng, nhưng theo ghi nhận của nguồn tư liệu, hiện nay còn rất ít người biết chữ Hán.

Bàn thờ của người Sán Dìu thờ những ai?

Trên bàn thờ thường đặt ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân. Nếu chủ nhà chưa được cấp sắc thì chỉ có hai bát hương. Người Sán Dìu còn thờ thổ thần ở miếu và thờ thành hoàng ở đình.

Lễ hội và sinh hoạt văn nghệ chính của người Sán Dìu là gì?

Người Sán Dìu có hát giao duyên nam nữ gọi là soọng cô, thường hát về đêm và có cuộc hát kéo dài suốt nhiều đêm. Về lễ tết, ngoài các ngày tết như nhiều dân tộc trong vùng, tết Đông chí còn mang thêm ý nghĩa cầu mong con đàn cháu đống.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc (cema.gov.vn)
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
  3. Dân tộc miền núi (dantocmiennui.baotintuc.vn)
  4. Báo Nhân Dân, Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#SánDìu#54dântộcViệtNam#dântộcthiểusố#trungduBắcBộ#soọngcô#tậptụcthờcúng