
TL;DR: Quẻ Sơn Thủy Mông (蒙, quẻ số 4) gồm quẻ trên là Cấn (Núi) và quẻ dưới là Khảm (Nước). Quái từ chép: 蒙:亨。匪我求童蒙,童蒙求我。初筮告,再三瀆,瀆則不告。利貞。 Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi hỏi việc làm, tình cảm hay tiền bạc, nên chủ động tìm người có kinh nghiệm, hỏi đúng lúc và đúng người, không vội quyết khi hiểu biết còn mờ.
Quẻ Sơn Thủy Mông là gì?
Quẻ Sơn Thủy Mông (蒙) là quẻ thứ 4 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, gồm quẻ trên là Cấn (Núi) và quẻ dưới là Khảm (Nước). Tên "Mông" chỉ trạng thái còn mờ tối, non dại, như dòng suối mới tuôn ra dưới chân núi.
Quẻ này đứng sau quẻ Truân (quẻ số 3) trong truyền thống sắp xếp của Văn Vương. Truyền thống quy cho Phục Hy vẽ quẻ, Văn Vương đặt tên và viết quái từ, Chu Công viết hào từ, Khổng Tử viết Thập Dực; nghiên cứu hiện đại không coi chuỗi quy tác giả này là đã được chứng minh, mà thường xếp lời kinh vào khoảng đầu thiên niên kỷ 1 TCN và Thập Dực vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN.
Cấu trúc quẻ Sơn Thủy Mông có gì đặc biệt?
Quẻ gồm hai quẻ đơn: dưới là Khảm (☵) tượng Nước, trên là Cấn (☶) tượng Núi[1]. Hình ảnh là suối nước chảy ra từ dưới chân núi, dòng còn nhỏ, chưa rõ đường đi.
Sáu hào theo thứ tự từ dưới lên: sơ lục (âm), cửu nhị (dương), lục tam (âm), lục tứ (âm), lục ngũ (âm), thượng cửu (dương). Quẻ hỗ của Mông là Địa Lôi Phục (quẻ 24), quẻ biến khi cả sáu hào đều đổi là Trạch Hỏa Cách (quẻ 49).
Lời gốc quẻ Sơn Thủy Mông chép thế nào?
Quái từ chép: 蒙:亨。匪我求童蒙,童蒙求我。初筮告,再三瀆,瀆則不告。利貞[1]。
Âm Hán Việt: Mông: Hanh. Phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã. Sơ thệ cáo, tái tam độc, độc tắc bất cáo. Lợi trinh.
Dịch nghĩa sát: Mông: Hanh thông. Chẳng phải ta tìm kẻ trẻ dại, mà kẻ trẻ dại tìm ta. Gieo lần đầu thì bảo, gieo lại hai ba lần là nhờn, nhờn thì không bảo. Lợi về sự chính bền.
Sáu hào từ chép:
- Hào Sơ lục: 初六:發蒙,利用刑人,用說桎梏,以往吝[1]。 Âm Hán Việt: Sơ lục: Phát mông, lợi dụng hình nhân, dụng thoát chất cốc, dĩ vãng lận. Dịch nghĩa: Mở sự mông muội, nên dùng hình phạt để tháo gỡ gông cùm, cứ thế mà tiến tới thì hối tiếc.
- Hào Cửu nhị: 九二:包蒙吉,納婦吉,子克家[1]。 Âm Hán Việt: Cửu nhị: Bao mông cát, nạp phụ cát, tử khắc gia. Dịch nghĩa: Bao dung sự mông muội thì tốt, nhận vợ thì tốt, con nối được nghiệp nhà.
- Hào Lục tam: 六三:勿用取女,見金夫,不有躬,无攸利。 Âm Hán Việt: Lục tam: Vật dụng thủ nữ, kiến kim phu, bất hữu cung, vô du lợi. Dịch nghĩa: Chớ dùng việc cưới vợ, thấy người chồng có của, không giữ được thân mình, không có lợi gì.
- Hào Lục tứ: 六四:困蒙,吝[1]。 Âm Hán Việt: Lục tứ: Khốn mông, lận. Dịch nghĩa: Bị khốn vì mông muội, đáng hối tiếc.
- Hào Lục ngũ: 六五:童蒙,吉[1]。 Âm Hán Việt: Lục ngũ: Đồng mông, cát. Dịch nghĩa: Trẻ thơ mông muội, tốt lành.
- Hào Thượng cửu: 上九:擊蒙,不利為寇,利禦寇[1]。 Âm Hán Việt: Thượng cửu: Kích mông, bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu. Dịch nghĩa: Đánh vào sự mông muội, không lợi khi làm giặc cướp, lợi khi chống giặc cướp.
Thoán truyện và Tượng truyện quẻ Mông nói gì?
Thoán truyện (thuộc Thập Dực, truyền thống quy cho Khổng Tử; nghiên cứu hiện đại xếp vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN) viết: 蒙,山下有險,險而止,蒙。蒙亨,以亨行,時中也。匪我求童蒙,童蒙求我,志應也。初筮告,以剛中也。再三瀆,瀆則不告,瀆蒙也。蒙以養正,聖功也。
Đại Tượng (Tượng truyện) viết: 山下出泉,蒙;君子以果行育德[1]。
Tiểu Tượng cho từng hào: hào Sơ lục 利用刑人,以正法也 (dùng hình phạt để làm chính phép tắc); hào Cửu nhị 子克家,剛柔接也 (con nối nghiệp nhà, vì cứng mềm tiếp nhau); hào Lục tam 勿用取女,行不順也 (chớ cưới vợ, vì hành động không thuận); hào Lục tứ 困蒙之吝,獨遠實也 (khốn vì mông muội là hối tiếc, vì chỉ riêng xa sự thật); hào Lục ngũ 童蒙之吉,順以巽也 (trẻ thơ mông muội tốt lành, vì thuận và khiêm nhường); hào Thượng cửu 利禦寇,上下順也 (lợi chống giặc cướp, vì trên dưới thuận nhau).
Chú giải có tên: Vương Bật chú quẻ Mông thế nào?
Vương Bật chú (trong Chu Dịch chính nghĩa) về quái từ: "筮" là vật để quyết nghi[2]. Kẻ đồng mông đến tìm ta, muốn quyết điều còn hoặc. Quyết không nhất quán thì không biết theo đâu, lại hoặc thêm. Cho nên gieo lần đầu thì bảo, gieo lại hai ba lần thì nhờn. Nhờn, là mông vậy. Kẻ làm được việc gieo lần đầu, chỉ có hào hai thôi sao? Vì cứng mà ở giữa, có thể đoán được điều nghi.
Vương Bật chú về "Lợi trinh": Điều Mông làm lợi, là lợi về chính[2]. Sáng không gì bằng thánh, tối không gì bằng mông. Mông mà nuôi chính là công của thánh. Nhưng nuôi chính bằng sáng thì mất đạo vậy.
Vương Bật chú về Thoán truyện: "Mông, hanh", lấy hanh mà hành, được thời trung vậy. "Chẳng phải ta tìm kẻ trẻ dại, kẻ trẻ dại tìm ta", là chí ứng nhau vậy. "Ta" là kẻ không phải đồng mông, tức là dương. Phàm kẻ không biết cầu hỏi kẻ biết, kẻ biết không cầu hỏi kẻ mình bảo; kẻ tối cầu kẻ sáng, kẻ sáng không hỏi kẻ tối. Cho nên nghĩa của Mông là "chẳng phải ta tìm kẻ trẻ dại, kẻ trẻ dại tìm ta". Kẻ đồng mông đến tìm ta, vì chí ứng nhau vậy. "Gieo lần đầu thì bảo, vì cứng mà ở giữa", là nói hào hai. Hai làm chủ các âm, không cứng mà mất giữa, thì cớ sao được việc gieo lần đầu mà bảo?
Vương Bật chú về Tượng truyện: "Quả hành" là nghĩa của gieo lần đầu[2]. "Dục đức" là công của nuôi chính.
Vương Bật chú về hào Sơ lục: Ở đầu sự mông, hào hai soi lên trên, cho nên mông được mở[2]. Mông mở thì nghi sáng, hình phạt tháo gỡ là phải. "Dĩ vãng lận", là hình phạt không thể kéo dài.
Vương Bật chú về hào Cửu nhị: Lấy cứng mà ở giữa, kẻ đồng mông quy về, bao dung mà không ngăn thì xa gần đều đến, cho nên "bao mông cát"[2]. Người vợ là kẻ phối với mình mà thành đức. Thể dương mà bao được mông, lấy cứng mà ở được giữa, lấy đó nhận phối thì vật không gì không ứng, cho nên "nạp phụ cát". Ở trong quẻ, lấy cứng tiếp mềm, thân mà được giữa, có thể gánh việc, thi hành cho con, là nghĩa khắc gia.
Vương Bật chú về hào Lục tam: Thời đồng mông, âm cầu dương, tối cầu sáng, mỗi bên cầu mở sự tối của mình[2]. Lục tam ở trên hạ quái, thượng cửu ở trên thượng quái, là nghĩa nam nữ. Trên không cầu ba mà ba cầu trên, là người nữ cầu nam trước. Thể của người nữ là giữ chính để chờ mệnh. Thấy người chồng cứng mà cầu, cho nên nói "bất hữu cung". Thi hành cho nữ thì hành không thuận, cho nên "chớ cưới vợ", mà "không lợi gì".
Vương Bật chú về hào Lục tứ: Riêng xa dương, ở giữa hai âm, tối không gì mở, cho nên nói "khốn mông"[2]. Khốn vì mông muội, không thể gần hiền để mở chí mình, cũng là bỉ lậu, cho nên nói "lận".
Vương Bật chú về hào Lục ngũ: Lấy chất âm mà ở ngôi tôn, không tự đảm nhiệm việc xét, mà giao cho hào hai, giao vật cho người có tài, không nhọc sáng suốt, công mới thành, cho nên nói "đồng mông cát"[2].
Vương Bật chú về hào Thượng cửu: Ở cuối sự mông, lấy cứng ở trên, có thể đánh đuổi kẻ đồng mông, để mở sự tối của họ, cho nên nói "kích mông"[2]. Kẻ đồng mông vốn muốn mở mà mình đã đánh đuổi được, hợp nguyện trên dưới, cho nên không gì không thuận. Làm việc chống giữ, thì vật đều phụ vào. Nếu muốn lấy, thì vật đều phản, cho nên "không lợi làm giặc cướp, lợi chống giặc cướp".
Gặp quẻ Sơn Thủy Mông khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Mông không phải là bản án về tương lai, mà là một tấm gương mô tả trạng thái hiện tại: người hỏi đang ở giai đoạn chưa đủ thông tin, chưa đủ kinh nghiệm, hoặc đang bị che khuất bởi định kiến. Quái từ chép về sự hanh thông nhờ giữ chính, và nhấn mạnh việc cầu hỏi phải thành tâm, không nhờn.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi bắt đầu một việc làm mới, nên tìm một người thầy hoặc người cố vấn có kinh nghiệm, chủ động hỏi đúng lúc và đúng người, không hỏi tràn lan rồi nghi ngờ. Trong tình cảm, nên chậm lại, tìm hiểu kỹ thay vì vội vàng quyết định. Về tiền bạc, giai đoạn này không phải lúc mạnh tay đầu tư khi hiểu biết còn mờ. Về sức khỏe, nên tham khảo ý kiến chuyên môn thay vì tự chẩn đoán.
Khi làm lãnh đạo, gặp quẻ Mông thì nên hiểu thế nào?
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hào Lục ngũ là hào âm ở ngôi tôn, gợi hình ảnh người đứng đầu không tự cho mình là sáng suốt, mà biết giao việc cho người có tài (hào Cửu nhị) và giữ thái độ cầu thị. Hào Thượng cửu cho thấy khi sự mông muội đã quá sâu, có thể phải dùng biện pháp mạnh để chấn chỉnh, nhưng phải phân biệt giữa việc chống giặc cướp và việc làm giặc cướp.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: người lãnh đạo nên biết mình không phải là người biết hết, nên tìm và trọng dụng người giỏi; khi phải chấn chỉnh thì nên nhắm vào việc chống giặc cướp (bảo vệ tập thể) chứ không phải làm giặc cướp (trừng phạt thái quá).
Bảng tra cứu nhanh: quẻ Sơn Thủy Mông
| Khía cạnh | Nội dung |
|---|---|
| Số thứ tự trong 64 quẻ | 4 |
| Tên chữ Hán | 蒙 |
| Ký hiệu | ䷃ |
| Tên tiếng Anh | Youthful Folly |
| Quẻ thượng (ngoại quái) | Cấn (Núi), hành Thổ, phương Đông Bắc |
| Quẻ hạ (nội quái) | Khảm (Nước), hành Thủy, phương Bắc |
| Sáu hào, hào sơ ở dưới | sơ âm, nhị dương, tam âm, tứ âm, ngũ âm, thượng dương |
| Tượng | Suối chảy dưới chân núi, dòng nước chưa biết về đâu. |
| Luận giải | Tượng cho sự non nớt, hiểu biết còn mờ. Người xưa đặt trọng tâm vào việc học và hỏi đúng lúc. Nóng vội tự quyết khi chưa đủ sáng thì dễ lạc đường. |
Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.
Liên hệ với tâm lý học hiện đại
Carl Gustav Jung từng quan tâm đến Kinh Dịch như một công cụ để nhận thức tính đồng hiện (synchronicity), tức những trùng hợp có ý nghĩa giữa trạng thái tâm lý người hỏi và kết quả gieo quẻ. Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, khi gieo được quẻ Mông, đó có thể là dịp để người hỏi tự soi lại xem mình đang ở trạng thái bối rối, thiếu thông tin hay đang cần được khai sáng ở điểm nào.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: hãy coi quẻ Mông như một lời nhắc nhẹ nhàng rằng sự mông muội không phải là tội lỗi, mà là giai đoạn cần thiết để trí tuệ được hun đúc; điều quan trọng là biết khiêm tốn học hỏi và kiên trì với quá trình đó.
Lưu ý về bối cảnh lịch sử của hào từ
Một số hào từ mang chuẩn mực xã hội thời xưa, như hào Lục tam nói về việc cưới vợ, hào Cửu nhị nói về vợ và con nối nghiệp nhà, hào Lục ngũ nói về người lãnh đạo. Đây là bối cảnh lịch sử của thời kỳ mà lời kinh được ghi lại, không nên đọc như lời khuyên áp đặt cho hôn nhân, vai trò nam nữ hay quan hệ vua tôi ngày nay.
Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, điều còn lại có thể tham khảo là tinh thần chung: chủ động cầu học, giữ lòng thành, biết bao dung và biết chấn chỉnh đúng lúc.
Bài tổng quan chủ đề: 64 quẻ Kinh Dịch
