Văn hoá Tây Nguyên là gì và vì sao được nhìn như một không gian văn hoá?
Văn hoá Tây Nguyên là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần của các tộc người sinh sống trên vùng đất phía tây Việt Nam, được sáng tạo, thực hành và trao truyền trong không gian rừng và thiết chế làng. Cách tiếp cận quan trọng ở đây là nhìn văn hoá Tây Nguyên như một không gian, chứ không phải một danh mục rời rạc các hiện vật. UNESCO đã công nhận Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại, một cách gọi cố ý: không phải công nhận riêng cây cồng chiêng hay âm nhạc cồng chiêng, mà công nhận cả một không gian thực hành, trong đó rừng và làng là hai trụ cột.
Làng ở Tây Nguyên có nhiều tên gọi tuỳ theo dân tộc: boom trong tiếng Mơ Nông, buôn trong tiếng Ê Đê, plai trong tiếng Gia Rai, veil trong tiếng Cơ Tu. Đây là đơn vị cơ bản của xã hội cổ truyền và vẫn còn lưu dấu đến ngày nay. Tính cộng đồng của người Tây Nguyên, khi nói cho chính xác, là tính cộng đồng làng, thậm chí đậm và cụ thể hơn cả ý thức tộc người.
Nhà rông giữ vai trò gì trong đời sống cộng đồng?
Nhà rông là công trình kiến trúc trung tâm của làng, nơi diễn ra các sinh hoạt tập thể, tiếp khách, tổ chức lễ hội và lưu giữ những giá trị biểu tượng của cộng đồng. Trong không gian văn hoá Tây Nguyên, nhà rông cùng với nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ, dân ca, dân vũ tạo thành một hệ thống thực hành gắn chặt với rừng và làng. Khi nói đến văn hoá Tây Nguyên, người ta thường nhắc hệ thống lễ hội, nhà rông, nhà dài, cồng chiêng trước tiên, bởi đó là những thực hành văn hoá gắn máu thịt với không gian rừng và thiết chế làng.
Cần lưu ý rằng kiến trúc nhà rông không hoàn toàn giống nhau giữa các dân tộc và các địa phương. Nguồn tư liệu hiện có mô tả nhà rông như một trung tâm cộng đồng mang tính biểu tượng, nhưng không thống nhất về mức độ chi tiết kiến trúc giữa các nhóm. Bài viết này theo quy ước mô tả nhà rông ở cấp độ chức năng cộng đồng, không đi sâu vào so sánh kiến trúc cụ thể giữa các dân tộc.
Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên có gì đặc biệt?
Điểm đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên không nằm ở cây cồng chiêng như một nhạc cụ riêng lẻ, mà ở cả không gian thực hành bao quanh nó. Không gian đó là rừng và làng. Khi không còn không gian thực hành, văn hoá cồng chiêng cũng như những giá trị văn hoá quý giá khác sẽ khó có điều kiện bảo tồn và phát huy. Đây là lý do UNESCO chọn cách gọi Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên thay vì chỉ công nhận cồng chiêng.
Cồng chiêng xuất hiện trong nhiều loại hình sinh hoạt: lễ hội cộng đồng, nghi lễ nông nghiệp, đám cưới, đám tang, các dịp tụ họp của làng. Trong chuỗi nghi lễ nông nghiệp cổ truyền, cồng chiêng là một phần của không gian trình diễn văn hoá, cùng với dân ca, dân vũ, bài trí cây nêu, sửa sang nhà rông, ẩm thực và rượu cần. Những người đàn ông tham gia vào việc gìn giữ văn hoá truyền thống qua việc tấu chiêng, đan gùi, nong, nia, rổ rá bằng mây tre, lồ ô, làm nhạc cụ tre nứa và hát dân ca.
Chế độ mẫu hệ Tây Nguyên vận hành theo cơ chế nào?
Chế độ mẫu hệ ở Tây Nguyên tồn tại trong dòng họ và gia đình từ hàng trăm năm, hình thành từ đặc điểm quần hôn nguyên thủy. Khi đó, người ta chỉ có thể nhận biết rõ ràng về mẹ, người đã hoài thai và sinh ra mình. Người mẹ giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý và chia bôi lương thực, thực phẩm, nói rộng ra là nắm giữ việc ăn và mặc hàng ngày của gia đình. Việc trong nhà do người đàn bà cai quản, còn giao tiếp với xã hội và cộng đồng do người đàn ông nhận lãnh, thậm chí thay mặt vợ kế nhiệm chủ bến nước.
Theo nguồn tư liệu, mẫu hệ Tây Nguyên trước 1975 phản ánh rõ nét trong nhiều phong tục, tập quán, nổi lên ba đặc điểm chi phối chính:
- Của cải và tước vị truyền theo dòng nữ.
- Hôn nhân do nhà gái chủ động, đàn ông cư trú bên nhà vợ.
- Con cái sinh ra mang họ mẹ.
Khi cha mẹ qua đời hoặc con gái đi lấy chồng, kể cả con nuôi, của cải sẽ được sẻ chia cho từng người tuỳ theo mức độ gia đình ấy có. Bất cứ việc lớn nhỏ gì trong gia đình, ý kiến quyết định cuối cùng vẫn là của người phụ nữ lớn tuổi nhất trong nhà. Hôn nhân và họ của con cái vẫn giữ nguyên theo tập tục cũ.
Trong một số dân tộc như Ê Đê, Gia Rai, Rơ Măm, hôn nhân vẫn do nhà gái chủ động, đàn ông cư trú bên vợ và con cái sinh ra mang họ mẹ. Thậm chí nếu vợ qua đời trước, người chồng có thể phải trở về nhà mình với hai bàn tay trắng nếu không có sự tái hôn với người trong dòng họ vợ, theo tục cuê nuê, nối dây.
Phân công lao động trong gia đình mẫu hệ diễn ra như thế nào?
Theo tập quán tự cung tự cấp truyền thống, trong mỗi gia đình Tây Nguyên đều có sự phân công lao động rõ ràng giữa người phụ nữ và người đàn ông. Việc cúng kiếng do người đàn ông thực thi. Việc nuôi, trồng, gặt hái lương thực, thực phẩm như lúa gạo, bắp, heo, gà, rượu cần để phục vụ chính gia đình và dùng trong các lễ cúng là trách nhiệm của phụ nữ. Khi còn làm rẫy luân khoảnh, có một đám lúa chỉ để dùng nấu cơm dâng lên các vị Yàng linh thiêng, phải do người phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình tự tay gieo trồng, suốt từng nhánh lúa, giã thành gạo, nấu thành cơm để đảm bảo sự sạch sẽ và trân kính.
Ngày nay, người phụ nữ không còn quán xuyến quá nhiều về kinh tế gia đình, nhất là đối với quy trình kỹ thuật canh tác cà phê, điều, cao su hay làm lúa nước. Vai trò chính dần chuyển sang cho những người đàn ông trong gia đình, nhất là khi tham gia các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật. Tuy vậy, việc giữ túi tiền, mua bán gì vẫn phải có ý kiến và sự đồng thuận của người phụ nữ.
Vai trò của người phụ nữ trong bảo tồn văn hoá được thể hiện ở đâu?
Vai trò lớn nhất và quan trọng nhất của mẫu hệ là trong việc bảo tồn văn hoá truyền thống. Trong gia đình, việc gìn giữ tiếng nói để con cái dẫu lớn lên và đi khỏi cộng đồng vẫn không mù tịt tiếng mẹ đẻ thì mẹ là người đầu tiên cùng các con lưu truyền, duy trì ngôn ngữ của tộc người. Khi các thành viên trong gia đình cần có trang phục truyền thống, người mẹ phải chuẩn bị cho con, dẫu là tự dệt hay mua ở đâu đó. Họ cũng là người gìn giữ và truyền dạy nghề dệt thổ cẩm cho phụ nữ các thế hệ sau của gia đình.
Trong các bữa ăn hàng ngày hiện nay, mẹ là người nấu nướng các món ăn truyền thống và dạy lại cho con gái cách chế biến, từ những món rau củ quả cây nhà lá vườn mọc hoang trong rừng rẫy như lá bép, đọt mây, trái núc nác hay khổ qua, mướp rừng. Bà, mẹ cũng là người lưu giữ và trao truyền những câu hát dân ca, hát ru. Đêm đêm ôm con nằm trong chăn ấm bên bếp lửa nhà sàn, mẹ thủ thỉ kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn của dân tộc mình về loài vật, để từ đó gieo từng hạt giống nhỏ vào giấc mơ, vào tâm hồn con về những điều hay nên làm, điều dở nên tránh từ thuở bé thơ.
Khi hỏi chồng cho con gái hoặc gả con trai về nhà vợ, chính người mẹ phải tính toán hoán đổi những hiện vật như trâu, bò, heo, thổ cẩm, rượu cần, chiêng, vòng đồng truyền thống trước kia thành vật chất hiện tại như tiền, vàng, chăn mền, heo, gà, chai rượu để làm của hồi môn mang sang nhà trai hoặc ngược lại làm lễ vật dẫn cưới cho nhà gái.
Các yếu tố của văn hoá Tây Nguyên đang biến đổi ra sao?
Sự biến đổi không gian sinh tồn, phương thức mưu sinh và tác động của các tín ngưỡng du nhập là những lý do quan trọng nhất dẫn đến sự phá vỡ một không gian văn hoá bản địa vốn hình thành trong môi trường thiết chế xã hội bộ tộc và kéo dài sang xã hội hiện đại. Trong đó, những dịch chuyển kinh tế xã hội có tác động sâu sắc đến việc bảo tồn và phát huy nhiều loại hình văn hoá dân gian.
Địa sinh thái nông nghiệp của đồng bào Tây Nguyên từng là cây lúa. Dưới không gian rộng lớn của núi rừng, cây lúa chi phối gần như toàn bộ đời sống. Lúa và cuộc canh nông ruộng rẫy quy định lối sống, kiểu sống, phép ứng xử với thần linh, thiên nhiên và cộng đồng. Lúa không chỉ mang đến cái ăn mà còn là ý niệm thường trực về các Yàng. Ý niệm ấy trở thành căn tính của các nhóm người thiểu số, họ luôn lấy đó làm trung tâm để giải thích các hiện tượng tự nhiên và tìm cách ứng xử phù hợp: từ chọn đất lập ruộng, chế tác nông cụ, phương thức canh tác, bảo vệ mùa màng, được mùa hay mất mùa.
Theo họ, tất cả đều do đấng thần linh sắp đặt, nên người trồng lúa ở Tây Nguyên có chung một sự biết ơn: ơn Yàng. Trước Yàng, đồng bào vun bồi tâm tính biết ơn, hiểu sâu sắc và yêu thương nguồn cội, núi rừng, ruộng rẫy và cộng đồng. Khi trồng lúa, ứng với quá trình sinh trưởng loài cây nuôi sự sống là một chuỗi nghi lễ xuyên suốt: chuỗi nghi lễ nông nghiệp. Sống trong ý niệm ơn Yàng, chuỗi nghi lễ nông nghiệp vừa là tạ ơn và cậy nương thần linh, vừa là quá trình ôn lại tri thức dân gian và thực hành văn hoá bản địa. Thông qua việc tổ chức các nghi lễ, người già truyền lại cho cháu con phương cách ứng xử.
Nay cây lúa cả vùng Tây Nguyên chỉ còn thưa thớt, cà phê và những cây công nghiệp khác lên ngôi cùng với sự biến mất dần các chuỗi nghi lễ. Đó là lý do làm cho cơ hội thực hành văn hoá cồng chiêng và các giá trị văn hoá khác suy giảm. Sự thay đổi cơ cấu cây trồng cũng khiến cho môi trường diễn xướng, truyền dạy các tri thức cổ truyền dẫn đến tiêu vong.
Bên cạnh sự thay đổi phương thức mưu sinh thì làng, thiết chế xã hội cổ truyền, tan rã và rừng, không gian sinh tồn, bị phá vỡ, tác động không nhỏ đến sự mai một vốn văn hoá cổ. Kết cấu làng có nguy cơ tan rã. Rừng đang dần mất. Các dòng sông bị chặn. Cơ cấu dân cư đảo lộn. Tập quán sống dựa vào tự nhiên ít dần cùng với sự thay đổi phương thức canh tác. Đó là những nguy cơ dẫn đến sự đổ vỡ khó cưỡng về văn hoá truyền thống bản địa.
Rừng và làng đóng vai trò gì trong việc bảo tồn các giá trị văn hoá?
Rừng với người Tây Nguyên không chỉ là nguồn tài nguyên, không chỉ là hệ sinh thái mà rừng chính là cội nguồn của đời sống tâm linh. Trong thẳm sâu tâm hồn của đồng bào, có một tình cảm ruột thịt và một lòng kính trọng thiêng liêng đối với rừng, họ coi cây rừng đúng như một sinh vật sống, cũng tràn đầy cảm xúc, cũng vui sướng, hạnh phúc, khổ đau, cũng có linh hồn. Người Tây Nguyên sống theo đạo đức của rừng, vươn tới sự hoàn thiện, hiền minh như rừng. Nhà dân tộc học George Condominas coi rừng không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là không gian xã hội, và là cội nguồn của tâm linh, phần sâu xa nhất của đời sống con người. Mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, thẳm sâu nhất của mình, trở nên bơ vơ, tha hoá, mất gốc, mất cội nguồn.
Văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng. Toàn bộ đời sống văn hoá đó, từ hệ giá trị đến những tín hiệu nhỏ, đều là biểu hiện mối quan hệ khăng khít, máu thịt của con người, của cộng đồng với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá rừng sẽ mai một và dẫn đến biến mất. Làng Tây Nguyên là một kết cấu làng rừng, một không gian thực hành văn hoá và tín ngưỡng lý tưởng cho các tộc người, bao hàm một cộng đồng cư trú, một cộng đồng sở hữu và lợi ích, một cộng đồng tâm linh, một cộng đồng văn hoá. Nói khái quát, đó là một không gian văn hoá.
Làng Tây Nguyên từng là một thiết chế xã hội bền vững và quy củ. Làng được điều hành bằng hội đồng già làng, tập hợp những người hiền minh nhất của làng. Hội đồng già làng từng quản lý và điều hành mọi hoạt động của làng bằng một hệ thống luật pháp cổ truyền đặc biệt: luật tục. Cho đến nay, luật tục Tây Nguyên vẫn tồn tại song hành cùng luật pháp và những mặt tích cực vẫn được phát huy giá trị trong quản lý xã hội.
Chế độ mẫu hệ hiện nay còn tồn tại ở những dân tộc nào?
Trải qua nhiều biến động của lịch sử, với sự thay đổi phương thức sản xuất cùng việc giao thoa văn hoá vùng miền, nhiều tộc người Tây Nguyên đã chuyển dần từ mẫu hệ truyền thống sang vai trò phụ hệ. Cho đến nay, theo nguồn tư liệu, chỉ còn một số ít tộc người như Ê Đê, Gia Rai, Rơ Măm là vẫn bảo lưu những đặc trưng cơ bản của chế độ mẫu hệ. Cần lưu ý rằng đây là ghi nhận của nguồn tư liệu, không phải một con số tuyệt đối cho mọi địa phương và mọi nhóm trong cùng một dân tộc.
Bảng dưới đây tóm tắt một số đặc điểm so sánh giữa các nhóm dân tộc Tây Nguyên theo các nguồn hiện có.
| Tiêu chí | Nhóm còn bảo lưu mẫu hệ (Ê Đê, Gia Rai, Rơ Măm) | Nhóm đã chuyển sang phụ hệ |
|---|---|---|
| Truyền của cải | Theo dòng nữ | Theo dòng nam |
| Hôn nhân | Nhà gái chủ động | Nhà trai chủ động |
| Cư trú sau hôn nhân | Bên nhà vợ | Bên nhà chồng |
| Họ của con cái | Theo họ mẹ | Theo họ cha |
| Người quyết định trong gia đình | Phụ nữ lớn tuổi nhất | Đàn ông lớn tuổi nhất |
Bảng này chỉ mang tính khái quát theo các nguồn đã dẫn, không đại diện cho mọi địa phương và mọi nhóm trong cùng một dân tộc.
Văn hoá Tây Nguyên hôm nay có gì khác so với trước?
Văn hoá Tây Nguyên hôm nay đã đậm in những gam màu thơm hương tươi sắc từ nhiều miền quê, từ nhiều tộc người góp mặt. Cái đẹp của văn hoá đã tạo nên sự xích lại gần nhau của các cộng đồng cư dân. Phát huy bản sắc các vùng miền, các tộc người đã tạo nên những sinh khí, những cố kết, những nền tảng nhân văn vững bền trên quê hương mới. Từ những đợt di dân và chọn miền thượng du này làm quê hương mới, đồng bào từ nhiều vùng trong nước đã mang đến đây hồn cốt cố xứ và bản sắc văn hoá các tộc người. Những giá trị đó góp phần tô điểm đại ngàn hùng vĩ phía tây Tổ quốc thành tấm thổ cẩm hoa văn đa sắc. Giao lưu, tiếp biến và hoà điệu văn hoá là những điều dễ dàng cảm nhận về hình ảnh xứ sở này hôm nay.
Tuy vậy, thật đáng lo ngại khi kho tàng di sản văn hoá cổ truyền Tây Nguyên đang từng ngày bị mai một. Rừng, không gian sinh tồn, đang cạn kiệt. Những khu nhà mồ hoang phế. Nạn chảy máu cồng chiêng và cổ vật. Những người già trong các buôn làng ra đi và mang theo những bộ sử thi, những tri thức dân gian vô giá về với đất. Sợi dây thắt chặt một cộng đồng văn hoá hình như đang lơi lỏng, đang tuột dần theo nhịp sống hiện đại. Bên cạnh đó, những người trẻ Tây Nguyên có ý thức bảo tồn vốn văn hoá truyền thống của tổ tiên, và thanh niên dân tộc bản địa Tây Nguyên tham gia làm hướng dẫn viên du lịch trải nghiệm rừng, một hướng đi mới cho việc gìn giữ và giới thiệu văn hoá.
Các phái và nguồn tư liệu có thống nhất với nhau không?
Cần nói rõ rằng các nguồn tư liệu về văn hoá Tây Nguyên không hoàn toàn thống nhất trong một số điểm. Về phạm vi tồn tại của chế độ mẫu hệ, nguồn tư liệu nêu Ê Đê, Gia Rai, Rơ Măm là những dân tộc còn bảo lưu đặc trưng cơ bản, nhưng không đưa ra một danh sách đầy đủ cho mọi nhóm địa phương. Về mức độ chi tiết kiến trúc nhà rông, các nguồn cũng có khác biệt. Về mức độ mai một của các chuỗi nghi lễ nông nghiệp, các nguồn đều ghi nhận xu hướng suy giảm nhưng không đưa ra số liệu định lượng thống nhất. Bài viết này theo quy ước trình bày các đặc điểm ở cấp độ khái quát theo các nguồn đã dẫn, không khẳng định một con số tuyệt đối cho toàn vùng.
Một điểm cần lưu ý về mặt phương pháp: khi nói về văn hoá Tây Nguyên, cần phân biệt giữa các tộc người tại chỗ và các tộc người di cư đến sau này. Các nguồn đều nhấn mạnh rằng Tây Nguyên hôm nay là nơi tụ hội văn hoá nhiều miền, với sự góp mặt của nhiều tộc người. Vì vậy, không nên gán một tập tục cho toàn bộ vùng Tây Nguyên khi nguồn chỉ nói về một nhóm hoặc một địa phương cụ thể.
Tổng kết
Văn hoá Tây Nguyên là một không gian văn hoá gắn với rừng và làng, trong đó cồng chiêng, nhà rông và chế độ mẫu hệ là ba yếu tố tiêu biểu. Cồng chiêng được UNESCO công nhận trong cả một không gian thực hành, nhà rông là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, và mẫu hệ vẫn hiện diện ở một số dân tộc như Ê Đê, Gia Rai, Rơ Măm. Các yếu tố này đang biến đổi mạnh do thay đổi phương thức canh tác, thu hẹp rừng và tan rã thiết chế làng. Việc bảo tồn cần đặt trong bối cảnh không gian thực hành, không chỉ bảo tồn hiện vật rời rạc.
