Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ê Đê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Ê Đê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Ảnh: Rod Waddington / flickr (CC BY-SA 2.0)

TL;DR: Người Ê Đê (còn gọi Anăk Ea Đê, Ra Đê) là dân tộc thiểu số có dân số đông ở Tây Nguyên, nói tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Đảo). Địa bàn cư trú chính hiện nay là Đắk Lắk, phía nam Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Xã hội Ê Đê mang đậm truyền thống mẫu hệ, vận hành theo tập quán pháp của tổ chức gia đình mẫu hệ, với hệ thống thần linh đa dạng và các lễ hội gắn chặt với chu kỳ nông nghiệp rẫy và bộ cồng chiêng.

Người Ê Đê là ai và họ sống ở đâu?

Người Ê Đê là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam, có tên tự gọi là Anăk Ea Đê, Ra Đê (hay Rhađê), Ê Đê, Êgar, Đê. Dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia trong ngữ hệ Nam Đảo, sinh sống lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, dân số Ê Đê là 398.671 người; trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 331.194 người.

Địa bàn cư trú chủ yếu hiện nay gồm tỉnh Đắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Trong danh mục các dân tộc Việt Nam, địa bàn cư trú của dân tộc Ê Đê được ghi là Đắc Lắc, Phú Yên, Khánh Hòa.

Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê được phản ánh qua các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Đây cũng là một trong những cộng đồng còn bảo lưu nhiều truyền thống mẫu hệ đậm nét ở nước ta.

Các nhóm địa phương

Theo nguồn của Ủy ban Dân tộc, người Ê Đê có nhiều nhóm địa phương như Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan. Danh sách các dân tộc Việt Nam trên Cổng thông tin Chính phủ cũng liệt kê các nhóm nhỏ tương tự, gồm Kpă, Ađham, Krung, Ktul, Dliê, Ruê, Blô, Êpan, Mđhur, Bih, Kđrao, Dong Kay, Dong Măk, Êning, Arul, Hning, Kmun, Ktlê. Cách ghi tên nhóm có đôi chỗ khác nhau giữa các nguồn, phản ánh sự đa dạng trong cách phiên âm và ghi nhận tên gọi địa phương.

Tiếng nói và chữ viết của người Ê Đê có gì đặc biệt?

Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Đảo). Đây là nhóm ngôn ngữ có quan hệ họ hàng với nhiều ngôn ngữ ở khu vực Đông Nam Á hải đảo và một số dân tộc khác ở Tây Nguyên như Gia Rai.

Về phương thức truyền đạt tri thức, việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Đến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển từ truyền khẩu thuần túy sang ghi chép bằng văn tự, tạo điều kiện cho việc lưu giữ sử thi, dân ca và tri thức bản địa.

Xã hội Ê Đê vận hành theo nguyên tắc nào?

Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi.

Làng gọi là buôn, là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Đứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca), thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Hôn nhân và tục nối dòng

Trong hôn nhân, người phụ nữ chủ động, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời, gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ. Tục này gắn với quan niệm về sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ, được truyền bảo từ ông bà xưa.

Tang lễ và nhà mồ

Khi có người chết, tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này, người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Tổ chức đời sống và nhà ở

Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với hai đặc trưng cơ bản: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu, hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia làm hai phần theo chiều dọc: phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ; phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu gỗ, tre, nứa, tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H'rim zít (tổ chức giúp công lao động hay đổi công trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách, nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới, mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới, như một cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên gia chủ. Dẫn đầu đoàn nữ là một khoa sang, bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Đời sống kinh tế và sinh hoạt vật chất

Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hóa cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5 đến 8 năm tùy theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn uống và trang phục

Người Ê Đê ăn cơm tẻ nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Trang phục truyền thống: phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu; nam giới đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Đồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng - căng tai và nhuộm đen răng. Đội đầu có khăn, nón.

Nghề dệt và phương tiện vận chuyển

Nghề dệt cổ truyền của người Ê Đê dùng khung dệt kiểu Inđônêdiêng thô sơ và nguyên thủy như bao tộc người khác ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Đây vừa là nghệ thuật làm ra đồ mặc (váy, áo, khố, mền, túi, địu) có độ bền chắc, vừa là nghệ thuật trang trí hoa văn trên nền vải với màu sắc, hình khối, đường nét và bố cục riêng mang tính tộc người rõ rệt.

Phương tiện vận chuyển chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. Ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Tập tục thờ cúng và hệ thống thần linh

Hệ thống tín ngưỡng của người Ê Đê phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Điê và Aê Đu, rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần.

Nghi lễ theo đuổi cả đời người, bao gồm lễ cầu phúc và lễ mừng sức khỏe cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này, nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần), thì người đó càng được dân làng kính nể. Đây là một thực hành văn hóa tín ngưỡng gắn với vị thế xã hội, không phải là thang đo giá trị tinh thần của cá nhân.

Trong không gian gah ở nội thất nhà sàn dài Ê Đê, bên cạnh cây cột trống, trống đại mặt da trâu bưng tang độc mộc đặt trên ghế phách kpan dài 12m, cũng độc mộc và hoành tráng kê dọc, luôn là những tài sản cao giá trong xã hội cổ truyền, biểu hiện sinh động về sự thịnh vượng và niềm tự hào ở các buôn làng.

Lễ hội và Tết cổ truyền diễn ra khi nào?

Người Ê Đê ăn Tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong, không vào một ngày nhất định mà tùy theo từng buôn. Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến Tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Đó là Tết lớn nhất; nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa, nhà khác thì mổ lợn gà.

Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy, gồm mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa

Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng với bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hóa nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Khan, dân ca và trò chơi

Hình thức kể khan rất hấp dẫn: về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả.

Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu) cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Bảng tóm tắt một số đặc điểm cơ bản

Đặc điểmThông tin
Tên tự gọiAnăk Ea Đê, Ra Đê (Rhađê), Ê Đê, Êgar, Đê
Nhóm địa phươngKpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan
Dân số (2019)398.671 người
Ngôn ngữNhóm Malayô-Pôlinêxia, ngữ hệ Nam Đảo
Địa bàn cư trúĐắk Lắk, nam Gia Lai, tây Phú Yên, Khánh Hòa
Tổ chức xã hộiMẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con gái út thừa kế
Nhà ởNhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền
Thần linh chínhAê Điê, Aê Đu, thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê)
Nhạc cụ tiêu biểuBộ cồng chiêng (6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, 1 chiêng giữ nhịp, 1 trống cái)
Chữ viếtChữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh, xuất hiện năm 1923

Người Ê Đê trong bức tranh chung các dân tộc Việt Nam

Theo Cổng thông tin Chính phủ và các tư liệu của Ủy ban Dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc. Ngày 2/3/1979, Tổng cục Thống kê nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố danh mục này. Dân tộc Kinh (Việt) chiếm hơn 85,4% tổng dân số toàn quốc; 53 dân tộc còn lại được gọi là thiểu số, chiếm khoảng 14,6% tổng dân số cả nước. Người Ê Đê nằm trong nhóm các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên, bên cạnh các dân tộc anh em như Gia Rai, Ba Na, Mnông, Cơ Ho, Xơ Đăng.

Các dân tộc thiểu số hiện nay sinh sống khắp các vùng miền của cả nước nhưng chủ yếu vẫn ở các vùng miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Khu vực Tây Nguyên có khoảng 2 triệu người dân tộc thiểu số sinh sống. Các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi thường có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp hơn, chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiên tai, đồng thời đối mặt với nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Đây là bối cảnh chung mà cộng đồng Ê Đê cũng như các dân tộc anh em đang từng bước thích ứng trong quá trình phát triển.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu về người Ê Đê

Khi tìm hiểu về dân tộc Ê Đê, cần phân biệt rõ các nhóm địa phương (Kpă, Adham, Krung...) là các nhóm trong cùng một dân tộc, không phải các dân tộc riêng biệt. Các tên gọi như "Mọi" từng xuất hiện trong một số tư liệu cũ, nhưng đây là cách gọi không còn phù hợp trong văn cảnh hiện nay; tên chính thức là Ê Đê.

Một số đặc điểm như chế độ mẫu hệ, tục nối dòng, tục cà răng - căng tai, lễ bỏ mả là những thực hành văn hóa đã và đang tồn tại ở các mức độ khác nhau tùy từng buôn, từng địa phương và từng thế hệ. Các nguồn tư liệu ghi nhận những nét chung, nhưng mức độ bảo lưu và biến đổi cụ thể ở từng nơi có thể không giống nhau.

Các giá trị văn hóa của người Ê Đê như sử thi khan, cồng chiêng, kiến trúc nhà sàn dài, nghề dệt thổ cẩmdi sản chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được ghi nhận trong các tư liệu nghiên cứu và trong danh mục các dân tộc chính thức.

Câu hỏi thường gặp

Người Ê Đê sống chủ yếu ở đâu?

Địa bàn cư trú chủ yếu hiện nay của người Ê Đê là tỉnh Đắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Trong danh mục các dân tộc Việt Nam, địa bàn được ghi là Đắc Lắc, Phú Yên, Khánh Hòa.

Tiếng Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Đảo). Đến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Người Ê Đê thờ những thần linh nào và tổ chức lễ hội gì?

Người Ê Đê theo quan niệm vạn vật hữu linh, thờ đấng sáng tạo Aê Điê và Aê Đu, thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) cùng các thần linh khác. Lễ hội chính gồm tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) và Tết (mnăm thun) vào tháng chạp âm lịch sau khi thu hoạch, gắn với bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc - Người Ê-đê
  2. Cổng thông tin Chính phủ - Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Dân tộc miền núi - Báo Tin tức - Dân tộc Ê Đê
  4. Nhân Dân - Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcÊĐê#TâyNguyên#cộngđồngcácdântộc#mẫuhệ#lễhộicồngchiêng