Từ tri thức tới công thức, tiện ích và cá nhân hoá: ví dụ một lá Bát Tự

Ảnh: Vạn Dân Anh (soạn); bản quét của Đại học Chiết Giang (CADAL) (CC0, phạm vi công cộng), nguồn
Hai người cùng sinh 14h30 ngày 2/2/1990 đi hỏi hai thầy. Thầy thứ nhất nói người này tuổi Ngọ, năm Canh Ngọ. Thầy thứ hai lập lá Bát Tự và ghi trụ năm là Kỷ Tỵ. Không ai nói sai. Hai thầy dùng hai cách đổi năm khác nhau, và không ai giải thích điều đó.
Bài này kể Nhật Nguyệt đi từ sách tới một kết quả cho riêng từng người như thế nào, lấy chính lá số ấy làm ví dụ.
Vì sao không bắt đầu bằng tiện ích?
Vì tiện ích chỉ đúng khi tri thức bên dưới nó đúng. Nhật Nguyệt dựng theo bốn tầng, và tầng sau chỉ được dựng trên tầng trước:
- Tri thức: đọc sách gốc, nghiên cứu, văn bản chính thức; mỗi câu có nguồn.
- Công thức: phần nào tính được thì viết thành mã, rồi kiểm bằng dữ liệu độc lập.
- Tiện ích: mỗi kết quả mang theo quy tắc từ đâu ra và chỗ các phái khác nhau.
- Cá nhân hoá: áp công thức lên ngày giờ sinh của từng người.

Làm ngược lại, tức dựng tiện ích trước rồi tìm sách sau, là cách dễ nhất để có một kết quả trông chắc chắn mà không ai giải thích được.
Tầng 1: tri thức về Bát Tự lấy từ đâu?
Từ sách của phái Tử Bình, đọc như sách của một phái chứ không như sách khoa học. Một trong những bộ sách được dẫn nhiều nhất là Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh, soạn thời Minh. Trang dưới đây là bản quét quyển ba, in trong bộ Tứ khố toàn thư.

Cột đầu bên phải ghi 「丙祿巳,丁祿午,戊寄巳,己寄午」: lộc của can Bính ở Tỵ, của Đinh ở Ngọ, còn Mậu gửi ở Tỵ, Kỷ gửi ở Ngọ. Câu ấy sẽ quay lại ở lá số ví dụ bên dưới.
Đọc sách để viết bài, Nhật Nguyệt tách từng câu theo loại tri thức:
- Phép tính lịch: ngày âm, tiết khí, can chi. Ai cũng kiểm lại được.
- Quy tắc của một phái: như "Mậu gửi lộc ở Tỵ". Đúng trong phái ấy, phái khác có thể khác, và chưa phái nào được kiểm chứng.
- Quan niệm dân gian: điều nhiều người tin.
- Điều chưa chắc: chỗ các sách chưa thống nhất.
Cách gắn nhãn được giải thích ở trang Loại tri thức.
Tầng 2: tri thức thành công thức thế nào?
Bằng cách viết đúng từng bước sách mô tả, rồi kiểm phần lịch bằng dữ liệu thiên văn. Với người sinh 14h30 ngày 2/2/1990, lõi tính đi bốn bước:
- Trụ năm đổi ở Lập Xuân, không ở Tết. Năm 1990, Tết Canh Ngọ rơi vào 27/1 nhưng Lập Xuân tới 9h11 ngày 4/2. Người sinh ngày 2/2 vì thế mang trụ năm Kỷ Tỵ.
- Trụ tháng theo tiết, không theo tháng âm. Tháng sinh mở từ tiết Tiểu Hàn (21h31 ngày 5/1), nên trụ tháng là Đinh Sửu, dù lịch âm ghi hôm ấy là mùng 7 tháng Giêng.
- Trụ ngày đổi lúc 23 giờ: Mậu Tuất. Can ngày là nhật chủ, tức "chính người ấy" trong cách đọc của Bát Tự.
- Trụ giờ suy từ can ngày theo quy tắc Ngũ Thử Độn: giờ Mùi của ngày Mậu là Kỷ Mùi.

Phần lịch (tiết khí) được đối chiếu với 4.824 mốc tiết khí của Đài thiên văn Paris (IMCCE) và 804 điểm phân, điểm chí của Đài thiên văn Hải quân Hoa Kỳ (USNO), từ 1900 tới 2100. Phần quy tắc của phái thì không có dữ liệu nào để đối chiếu, nên Nhật Nguyệt kiểm nó theo cách khác: máy phải áp đúng quy tắc đã ghi, và quy tắc nào có nhiều lối thì ghi hết các lối.
Một ví dụ về chỗ có nhiều lối: người sinh từ 23 giờ tới nửa đêm. Lõi tính đổi ngày lúc 23 giờ, đầu giờ Tý, nhưng có thầy giữ ngày cũ tới nửa đêm. Kết quả nói rõ điều ấy, thay vì lặng lẽ chọn một bên.
Tầng 3: một kết quả tiện ích nói những gì?
Nó nói kết quả, và nói cả kết quả ấy dựa vào đâu. Lá số ví dụ có tám chữ:

- Nhật chủ: Mậu, hành Thổ.
- Đếm hành: sáu Thổ, hai Hỏa, vắng Kim, Thủy, Mộc.
- Lộc Thần ở trụ năm: vì nhật chủ là Mậu, và câu 「戊寄巳」 trong sách đặt lộc của Mậu ở Tỵ.
Đó là đường đi trọn vẹn từ một dòng chữ trong sách tới một ô trong lá số.
Ngay trên kết quả, tiện ích ghi loại tri thức của nó: "Quy tắc của một phái, chưa được kiểm chứng." Dưới đó là khối "Các phái khác nhau ở đâu", nêu lựa chọn của Nhật Nguyệt bên cạnh lối khác:

Và một câu không bao giờ bị bỏ: chưa có nghiên cứu nào cho thấy tám chữ của ngày giờ sinh ứng với tính cách hay đời một người; máy chỉ bảo đảm lập đúng bốn trụ và áp đúng quy tắc đã ghi.
Lời giải nghĩa cũng lấy sách làm chủ ngữ. Tiện ích không viết "chị là người vững vàng", mà viết "sách Bát Tự ví Mậu như núi, đất dày: vững vàng, đáng tin, chậm mà chắc". Người đọc biết đó là cách một phái đọc, không phải một lời phán.
Tầng 4: cá nhân hoá dừng ở đâu?
Cá nhân hoá là tính đúng cho từng người, không phải nói điều người ấy muốn nghe. Khi anh chị lưu ngày giờ sinh vào hồ sơ, ô tìm kiếm trả lời luôn bằng kết quả của anh chị, không bắt gõ lại. Bản luận chuyên sâu đi xa hơn, đọc cả lá số theo sách, và có ba giới hạn cố ý:
- Mô hình AI chỉ nhận dữ kiện đã tính: tám chữ, các vai, các vận. Tên và ngày tháng năm sinh của anh chị không được gửi đi.
- Câu trích sách phải nằm nguyên văn trong sách, tên sách và tác giả ghi ở danh mục cuối bản.
- Không gọi năm, tháng nào là "xấu", không bán cách hoá giải.
Thử với ngày sinh của anh chị
Anh chị nhập ngày giờ sinh để xem bốn trụ, các bước tính và chỗ các phái khác nhau, như ví dụ ở trên.



