Nhật Nguyệt

Tiện ích miễn phí

Lá số Bát Tự

Lá số Bát Tự đổi ngày giờ sinh thành tám chữ can chi, kèm tàng can, thập thần và đại vận mười năm một chặng. Thần sát là chỗ các sách tra khác nhau nhiều nhất: Thiên Ất Quý Nhân của can Canh và Dương Nhận của can âm đều có hơn một lối. Cùng một lá số vì thế có thể mang một sao ở trang này mà không mang ở trang khác.

Lập lá số Tứ Trụ đủ bốn trụ kèm tàng can, thập thần, nạp âm, trường sinh, chín thần sát, mười đại vận, thai nguyên và mệnh cung. Hiện từng bước tính và nói rõ lối tra được chọn ở chỗ các phái lệch nhau.

Tìm hiểu thêm

Lá số Bát Tự gồm những gì và đọc theo thứ tự nào?

Lá số Bát Tự, còn gọi Tứ Trụ, gồm bốn cặp can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh, tổng cộng tám chữ. Can của trụ ngày là nhật chủ, đại diện cho chính người ấy; mọi can khác được gọi tên theo quan hệ ngũ hành và âm dương với nhật chủ, thành mười thần như Chính Quan, Thiên Tài, Thực Thần.

Mỗi địa chi còn chứa một tới ba thiên can ẩn, gọi là tàng can: can mạnh nhất là bản khí, hai can kia là trung khí và dư khí. Nhiều nhận định của Tử Bình dựa vào tàng can hơn là tám chữ lộ ra, nên lá số ở đây in tàng can và thập thần của từng can dưới mỗi trụ, cùng nạp âm và giai đoạn trường sinh của nhật chủ tại chi ấy.

Đại vận chia đời người thành từng chặng mười năm, khởi từ trụ tháng. Nam sinh năm can dương và nữ sinh năm can âm đi thuận, hai trường hợp còn lại đi nghịch. Tuổi khởi vận đếm số ngày từ lúc sinh tới tiết gần nhất theo chiều ấy, ba ngày tính một năm, nên hai người sinh cùng ngày khác giờ có thể vào vận cách nhau vài tháng.

Thần sát là các sao phụ tra theo can ngày, can năm hoặc nhóm tam hợp của chi năm và chi ngày. Đây là phần các sách lệch nhau nhiều nhất: Thiên Ất Quý Nhân của can Canh, Dương Nhận của can âm và gốc tra của Đào Hoa đều có hơn một lối, và trang ghi lối đã chọn ngay dưới từng sao.

Giờ sinh đọc theo giờ Việt Nam. Trụ tháng đổi tại tiết chứ không tại mùng một âm lịch, trụ năm đổi tại Lập Xuân, và trụ ngày đổi lúc 23h00, đầu giờ Tý. Người sinh sát các mốc ấy nên kiểm lại giờ sinh trước khi đối chiếu với một lá số khác.

Tàng can của mười hai địa chi
Địa chiBản khíTrung khíDư khí
TýQuý (Thủy)không cókhông có
SửuKỷ (Thổ)Tân (Kim)Quý (Thủy)
DầnGiáp (Mộc)Bính (Hỏa)Mậu (Thổ)
MãoẤt (Mộc)không cókhông có
ThìnMậu (Thổ)Quý (Thủy)Ất (Mộc)
TỵBính (Hỏa)Canh (Kim)Mậu (Thổ)
NgọĐinh (Hỏa)Kỷ (Thổ)không có
MùiKỷ (Thổ)Ất (Mộc)Đinh (Hỏa)
ThânCanh (Kim)Nhâm (Thủy)Mậu (Thổ)
DậuTân (Kim)không cókhông có
TuấtMậu (Thổ)Đinh (Hỏa)Tân (Kim)
HợiNhâm (Thủy)Giáp (Mộc)không có

Câu hỏi thường gặp

Bát Tự và Tử Vi khác nhau thế nào?

Cả hai đều lập từ ngày giờ sinh nhưng là hai hệ riêng. Bát Tự đọc tám chữ can chi và quan hệ ngũ hành giữa chúng; Tử Vi an hơn trăm sao lên mười hai cung. Cùng một người, hai lá số không đổi qua lại được, và sao trùng tên như Văn Xương ở hai hệ cũng không an theo cùng một phép.

Vì sao đại vận của tôi đi nghịch?

Vì chiều đại vận tuỳ giới tính và âm dương của can năm: nam sinh năm can dương và nữ sinh năm can âm đi thuận, hai trường hợp còn lại đi nghịch. Can năm ở đây là can của trụ năm, tức đã đổi tại Lập Xuân, nên người sinh đầu năm dương lịch trước Lập Xuân mang can của năm trước.

Tuổi khởi vận ở đây khác sách tôi đọc, bên nào đúng?

Thường cả hai cùng đúng theo quy ước của mình. Trang tính số ngày từ lúc sinh tới tiết gần nhất chính xác tới phút rồi quy ba ngày thành một năm, và ghi tuổi thực tính từ ngày sinh. Sách dùng tuổi mụ ghi lớn hơn một tuổi, còn bảng tra tay thường làm tròn theo ngày hoặc canh giờ nên lệch vài tháng.

Vì sao trung khí và dư khí ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi khác bảng tôi có?

Vì hai lối gọi tên khác nhau, còn bộ can thì như nhau. Trang theo lối nhân nguyên tư lệnh: ở Thìn, Quý là trung khí vì Thủy nhập mộ ở đó, Ất là dư khí vì là khí của tháng Mão còn sót lại. Nhiều bảng in gọi theo thứ tự in nên đổi chỗ hai tên ấy. Thập thần của từng tàng can không đổi.

Thần sát có quyết định tốt xấu của lá số không?

Không. Trong Tử Bình thần sát chỉ là lớp phụ; cách cục và sự cân bằng ngũ hành của tám chữ mới là phần chính, và không ít thầy Bát Tự gần như không dùng thần sát. Trang in chín sao thông dụng kèm gốc tra để bạn đối chiếu với sách, không dùng chúng để kết luận gì.

Không biết giờ sinh thì lá số còn dùng được không?

Được một phần. Ba trụ năm, tháng, ngày và đại vận vẫn lập được, nhưng thiếu trụ giờ nên mất hai chữ, không lập được mệnh cung, và thần sát chỉ dò trên ba trụ. Tuổi khởi vận tạm tính từ 12h trưa nên có thể lệch tới bốn tháng.

Thai nguyên và mệnh cung là gì?

Thai nguyên là can chi của tháng thụ thai, lấy can tháng tiến một và chi tháng tiến ba. Mệnh cung lấy 14 trừ tổng số tháng và số giờ sinh, đếm Dần là 1, can theo Ngũ Hổ Độn từ can năm. Cả hai là phần bổ trợ một số phái dùng để xem thêm, không thay bốn trụ.

Kết quả này có phải lời khuyên chuyên môn không?

Không. Lá số là phép lập lịch theo quy ước của một học phái, chưa được khoa học kiểm chứng, và không thay tư vấn y tế, pháp lý hay tài chính.