Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Bru - Vân Kiều: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Bru - Vân Kiều: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
TL;DR: Bru - Vân Kiều là một trong 54 dân tộc Việt Nam, theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019 có 94.598 người, cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Tà Ôi và Cơ Tu, giữa các nhóm địa phương Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong có một số từ vựng khác nhau. Đời sống tín ngưỡng xoay quanh thờ cúng tổ tiên, các thần linh gọi là Yang, và hệ lễ cúng gắn với chu kỳ canh tác rẫy, trong đó lễ có đâm trâu được xem là trọng nhất.

Dân tộc Bru - Vân Kiều là ai và sống ở đâu?

Bru - Vân Kiều là tên chính thức của một trong 54 dân tộc Việt Nam, theo Danh mục các thành phần dân tộc công bố ngày 2/3/1979. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, dân tộc này có 94.598 người, cư trú ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, thuộc miền tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.

Theo danh sách dân tộc của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, dân tộc Bru - Vân Kiều có tên gọi khác là Vân Kiều, Măng Coong, Trì, Khùa, Bru, với địa bàn cư trú được ghi là Quảng Bình và Quảng Trị. Nguồn của Ủy ban Dân tộc (cema.gov.vn) ghi nhóm địa phương gồm Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong, và lưu ý rằng có người cho Bru là tên tự gọi.

Cần phân biệt rõ: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong ở đây là các nhóm địa phương trong cùng một dân tộc, không phải các dân tộc riêng. Cách gọi tên và cách phân nhóm giữa các nguồn có thể khác nhau đôi chút, bài này theo cách trình bày của Ủy ban Dân tộc và danh mục chính thức của Chính phủ.

Vì sao có hai cách gọi Bru và Vân Kiều?

Các nguồn tham khảo đều ghi tên gọi khác gồm Bru và Vân Kiều, nhưng không giải thích đầy đủ nguồn gốc của từng cách gọi. Nguồn của Ủy ban Dân tộc chỉ nêu: có người cho Bru là tên tự gọi. Cách gọi Vân Kiều phổ biến ở nhóm cư trú phía đông dãy Trường Sơn, còn Bru thường gắn với nhóm ở phía tây và vùng biên giới. Đây là điểm mà các tài liệu dân tộc học còn ghi nhận chưa thật thống nhất, nên người tra cứu nên xem hai tên gọi là hai cách định danh của cùng một dân tộc trong danh mục chính thức.

Tiếng nói và chữ viết của người Bru - Vân Kiều có gì đặc biệt?

Tiếng nói của người Bru - Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, ngữ hệ Nam Á, gần gũi với tiếng Tà Ôi và tiếng Cơ Tu. Chữ viết mới được hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm địa phương có một số từ vựng không giống nhau.

Điểm đáng chú ý là mức độ gần gũi giữa các ngôn ngữ trong cùng nhóm Môn - Khơ Me ở khu vực miền trung Việt Nam. Việc tiếng Bru - Vân Kiều gần với tiếng Tà Ôi và Cơ Tu cho thấy một vùng ngôn ngữ có quan hệ lịch sử lâu dài dọc dãy Trường Sơn, chứ không phải những cộng đồng biệt lập. Việc chữ viết chỉ mới hình thành theo lối phiên âm Latinh cũng phản ánh một thực tế chung của nhiều dân tộc thiểu số: truyền thống truyền khẩu đóng vai trò chính trong việc lưu giữ tri thức, còn chữ viết là bổ sung về sau.

Nhà ở và cách quần cư: vì sao nhà sàn lại có bếp trên sàn?

Người Bru - Vân Kiều thường chọn những khoảng đất tương đối bằng phẳng làm nơi cư trú. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ, các nhà dựng quây quần quanh sân chung của làng. Nhà có sàn cao, mái tròn ở đầu hồi. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, và có kiêng cữ là không nằm ngang sàn.

Ở nhóm Trì, Khùa, Ma Coong, nhà thường được ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già nếu có, và cho con đã lớn. Cách ngăn buồng này cho thấy sự phân biệt không gian sinh hoạt theo thế hệ và theo cặp vợ chồng, khác với kiểu nhà sàn một không gian chung của một số dân tộc khác.

Lối kiến trúc truyền thống này, theo nguồn của Ủy ban Dân tộc, ít nhiều còn được duy trì đến ngày nay.

Hoạt động sản xuất và đời sống vật chất

Canh tác rẫy và bộ nông cụ đơn giản

Người Bru - Vân Kiều canh tác rẫy, trồng lúa là chính. Nông cụ gồm rìu, dao quắm, gậy trỉa, và cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất là phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay. Trên từng đám rẫy, họ canh tác đa canh và xen canh, kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài các giống lúa tẻ và nếp, họ còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai, mía.

Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu, về sau có cả bò, cùng lợn, gà, chó là phổ biến. Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.

Ăn, mặc, vận chuyển

Người Bru - Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội thì dùng cơm nếp nấu trong ống tre tươi. Họ quen ăn bốc, uống nước lã, dùng rượu cần, nay rượu cất đã thông dụng hơn. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu đất nung hoặc tẩu làm từ cây le.

Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, áo không có tay và mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở nên phổ biến, nhưng tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia, người ta thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Đồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, ở tay và khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc; riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng thì tóc được búi trên đỉnh đầu.

Phương tiện vận chuyển chính là gùi. Người ta đeo gùi sau lưng, hai quai gùi quàng vào đôi vai. Nguồn của Ủy ban Dân tộc mô tả chiếc gùi gắn bó với mỗi người như hình với bóng và là vật dụng vận tải đa năng. Đan lát là công việc dành riêng cho đàn ông, tạo ra các loại gùi, giỏ và nhiều đồ gia dụng cần thiết khác.

Quan hệ xã hội và tài sản

Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực. Đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi đã bỏ hoá. Người già làng có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu nghèo đã hình thành, nhưng theo nguồn của Ủy ban Dân tộc, hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau, và hiện tượng người bóc lột người không phổ biến. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu.

Tập tục thờ cúng của người Bru - Vân Kiều diễn ra như thế nào?

Người Bru - Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo quan niệm của họ, hiện thân của linh hồn các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà.

Người ta tin vào các thần linh gọi là Yang, gồm thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước. Ma gia đình đằng vợ, gọi là Yang cu gia, cũng được con rể thờ cúng. Đây là một điểm đáng lưu ý: bên cạnh dòng thờ cúng nội tộc, người con rể còn có trách nhiệm thờ cúng ma gia đình bên vợ, cho thấy quan hệ hôn nhân tạo ra nghĩa vụ tín ngưỡng kéo dài giữa hai dòng họ.

Cần nhấn mạnh rằng đây là các thực hành tín ngưỡng được mô tả như một phần của đời sống văn hoá tộc người. Bài viết thuật lại theo nguồn, không khẳng định tính linh nghiệm của các thực hành này.

Lễ hội và các nghi lễ chính trong năm

Người Bru - Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu phát, trỉa và thu hoạch. Đặc biệt, lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn.

Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát.

Cách tính lịch và quan niệm ngày tốt, ngày xấu

Người Bru - Vân Kiều căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Họ quan niệm có những ngày tốt, nhất là mùng 4, 7, 9, và những ngày xấu, nhất là ngày 30 và mùng 1. Mỗi năm, lịch nông nghiệp của họ gồm 10 tháng, tiếp đến là thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới. Việc một năm nông nghiệp chỉ có 10 tháng phản ánh cách chia thời gian theo chu kỳ cây trồng chứ không thuần theo dương lịch.

Vòng đời: cưới xin, sinh đẻ và tang ma

Cưới xin

Cô dâu về ở nhà chồng. Nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm lễ cưới lần thứ hai khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.

Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích. Việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng, cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ, đều được chấp thuận. Khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.

Sinh đẻ

Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy và không bước qua cây nằm ngang đường. Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.

Tang ma

Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt nằm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ. Ở các nhóm Khùa và Ma Coong, tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2 đến 3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.

Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp. Xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm, đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần vào sáng, trưa, tối. Khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ, từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn.

Văn nghệ dân gian: hát, múa và nhạc cụ

Người Bru - Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, và về đề tài người mồ côi. Các điệu hát gồm: Oát là loại hát đối đáp giao duyên; Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng; Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người; Roai tol và Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách; Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát.

Nhạc cụ phổ biến gồm cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo. Sự đa dạng nhạc cụ này cho thấy đời sống âm nhạc không chỉ gắn với nghi lễ mà còn gắn với sinh hoạt cộng đồng thường ngày.

Bảng tra cứu nhanh về dân tộc Bru - Vân Kiều

Tiêu chíThông tin
Tên chính thứcBru - Vân Kiều
Tên gọi khácBru, Vân Kiều, Măng Coong, Trì, Khùa
Nhóm địa phươngVân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong
Dân số94.598 người (Điều tra 53 dân tộc thiểu số, 1/4/2019)
Ngữ hệNam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me
Quan hệ ngôn ngữ gầnTiếng Tà Ôi, tiếng Cơ Tu
Địa bàn cư trúMiền tây Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế
Kiểu nhàNhà sàn, bếp trên sàn, mái tròn ở đầu hồi
Nghề chínhCanh tác rẫy, trồng lúa; đan lát do đàn ông đảm nhiệm
Tín ngưỡng trung tâmThờ cúng tổ tiên, các thần linh Yang
Lễ trọng nhấtLễ cúng có đâm trâu
Thời điểm TếtSau kỳ tuốt lúa, mỗi làng sớm muộn khác nhau

Vài lưu ý khi tra cứu về dân tộc này

Thứ nhất, dân số của dân tộc Bru - Vân Kiều có sự khác nhau giữa các lần điều tra. Nguồn của Ủy ban Dân tộc dẫn số liệu 94.598 người theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, trong khi nguồn dantocmiennui.baotintuc.vn dẫn số 74.506 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Đây là hai thời điểm khác nhau, không phải mâu thuẫn về bản chất, nhưng người tra cứu nên ghi rõ năm của số liệu mình dùng.

Thứ hai, các nhóm địa phương Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong có những khác biệt nhất định trong tập tục, ví dụ cách đặt tử thi trong tang ma, và khác biệt về từ vựng. Khi một nguồn mô tả một tập tục, cần đọc kỹ xem nguồn ghi nhận tập tục đó ở nhóm nào và ở địa phương nào, tránh gán chung cho toàn bộ dân tộc.

Thứ ba, nhiều tập tục trong bài này được ghi nhận trong các tài liệu dân tộc học từ nhiều thập niên trước và đã có thay đổi trong đời sống đương đại, như trường hợp rượu cần và rượu cất, hoặc y phục kiểu người Việt trở nên phổ biến. Các nguồn cũng ghi nhận một thực tế chung là các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số đang có xu hướng mai một, đây là vấn đề được nêu trong tài liệu của Báo Nhân Dân về cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Bru - Vân Kiều có bao nhiêu người và sống ở đâu?

Theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, dân tộc Bru - Vân Kiều có 94.598 người. Địa bàn cư trú là vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, thuộc miền tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Một số nguồn cũ dẫn số 74.506 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, nên khi tra cứu cần ghi rõ năm của số liệu.

Tiếng Bru - Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người Bru - Vân Kiều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, ngữ hệ Nam Á, gần gũi với tiếng Tà Ôi và tiếng Cơ Tu. Chữ viết mới được hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm địa phương Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong có một số từ vựng không giống nhau.

Người Bru - Vân Kiều thờ cúng những gì và lễ trọng nhất là lễ nào?

Người Bru - Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên, với quan niệm hiện thân của linh hồn người quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Họ cũng tin vào các thần linh gọi là Yang như thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước, và thờ cả ma gia đình đằng vợ gọi là Yang cu gia. Lễ cúng có đâm trâu được xem là lễ trọng nhất.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc - Người Bru-Vân Kiều
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ - Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Dân tộc miền núi - Dân tộc Bru-Vân Kiều
  4. Báo Nhân Dân - Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#Bru-VânKiều#54dântộcViệtNam#TrườngSơn#Môn-KhơMe#lễhộiđâmtrâu