Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc La Ha: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc La Ha: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
TL;DR: Người La Ha là một trong 54 dân tộc Việt Nam, tên tự gọi là La Ha, Klá, Phlạo, thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai (ngữ hệ Thái - Ka Đai), cư trú chủ yếu ở Yên Bái và Sơn La. Dân số theo Tổng điều tra năm 2019 là 10.157 người. Người La Ha theo chế độ phụ hệ, thờ tổ tiên trong gian nhà hóng, có tục ở rể dài ngày trước lễ cưới chính thức và hai điệu múa đặc trưng là múa dương vật (linga) và múa cung kiếm.

Người La Ha là ai và tên gọi của dân tộc này gồm những gì?

Người La Ha là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam, theo Danh mục các thành phần dân tộc ban hành kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979. Tên tự gọi của dân tộc này là La Ha, Klá, Phlạo. Trong các văn liệu cũ và trong cách gọi dân gian, họ còn được nhắc tới bằng nhiều tên khác như Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa.

Cần phân biệt rõ: đây là các tên gọi khác của cùng một dân tộc, không phải các dân tộc riêng. Trong danh mục chính thức, dân tộc La Ha đứng ở vị trí thứ 47, với tên gọi khác được ghi là Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga.

Dân tộc La Ha có hai nhóm địa phương được ghi nhận: La Ha cạn (Khlá Phlao) và La Ha nước (La Ha củng). Đây là cách phân nhóm trong nội bộ dân tộc, căn cứ vào đặc điểm cư trú và tập quán sinh hoạt, không phải hai dân tộc khác nhau.

Về dân số, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 8.177 người. Đến cuộc Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, con số này là 10.157 người.

Tiêu chíThông tin
Tên tự gọiLa Ha, Klá, Phlạo
Tên gọi khácXá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa
Nhóm địa phươngLa Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha củng)
Dân số 20098.177 người
Dân số 201910.157 người
Ngôn ngữNhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai
Địa bàn cư trúYên Bái, Sơn La

Người La Ha cư trú ở đâu và có lịch sử hình thành như thế nào?

Theo Danh sách các dân tộc Việt Nam do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ công bố, địa bàn cư trú của dân tộc La Ha là Yên BáiSơn La. Đây là hai tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, nơi có địa hình núi cao, chia cắt mạnh.

Về lịch sử, người La Ha có mặt sớm ở miền Tây Bắc nước ta. Theo những tài liệu chữ Thái cổ, vào thế kỷ XI và XII, khi người Thái Đen thiên di tới vùng đất này, họ đã gặp tổ tiên của người La Ha hiện nay. Chính vì vậy, khi làm lễ cúng Mường, người Thái vẫn còn tục đặt cỗ trâu trắng để tế thần Ăm Poi, một thủ lĩnh nổi tiếng của người La Ha vào đầu thế kỷ XI. Chi tiết này cho thấy quan hệ lịch sử lâu đời và sự gắn bó giữa người La Ha với không gian văn hoá Thái ở Tây Bắc.

Cũng cần lưu ý rằng các nguồn hiện có chủ yếu ghi nhận địa bàn cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Trên thực tế, do quá trình di cư và thay đổi địa giới hành chính qua các thời kỳ, cách ghi địa danh trong các văn liệu khác nhau có thể không hoàn toàn trùng khớp. Bài viết này theo cách ghi trong Danh sách các dân tộc Việt Nam của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Tiếng nói của người La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Đây là thông tin được ghi nhận thống nhất trong các nguồn tư liệu về dân tộc La Ha.

Một điểm đáng chú ý là trong đời sống văn hoá, người La Ha trước kia học chữ Thái, hát và làm thơ bằng tiếng Thái khá thạo. Họ cũng dùng lịch của người Thái. Điều này phản ánh mức độ giao lưu văn hoá sâu rộng giữa người La Ha và các dân tộc Thái trong vùng, đồng thời cho thấy tiếng Thái từng giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tinh thần của cộng đồng.

Người La Ha làm những nghề gì để mưu sinh?

Người La Ha đã bắt đầu làm ruộng nước, nhưng loại hình kinh tế chính vẫn là nương rẫy du canh du cư, kèm theo săn bắt và hái lượm. Phương thức canh tác còn đơn giản, chủ yếu dùng gậy chọc lỗ và dao phát nương.

Các cây trồng chính gồm lúa nếp, ngô, đậu tương và bông. Một đặc điểm đáng chú ý là phụ nữ La Ha không biết dệt vải, do đó họ phải đem bông đổi vải của người Thái để may mặc. Đây là một dạng trao đổi hàng hoá gắn với phân công lao động và quan hệ tộc người trong khu vực.

Về phương tiện vận chuyển, người La Ha dùng gùi, trâu kéo và ngựa thồ. Nghề đánh bắt cá truyền thống cũng khá phát triển, thể hiện qua kỹ thuật đan hom giỏ được đánh giá là có trình độ cao.

Nhà ở và cách bài trí không gian sống của người La Ha có gì đặc biệt?

Người La Ha ở nhà sàn với hai kiểu cấu trúc khác nhau, tương ứng với hai lối sống. Kiểu thứ nhất là nhà ở tạm từ 1 đến 3 năm của những nhóm sống du canh du cư: hai đầu hồi mái nhà lượn tròn theo hình bầu dục, dài ra hai bên như hình hàm lợn. Kiểu thứ hai là nhà ở lâu năm của những nhóm sống bán định cư, bán định canh hoặc định canh định cư: hai đầu hồi mái tròn khum hình mai rùa, giống kiểu nhà của người Thái Đen.

Bố cục trong nhà chia làm hai phần, trong đó phần tiếp khách chiếm diện tích rộng từ một phần hai đến hai phần ba diện tích nhà. Ngăn giữa phần chủ và phần khách là một cột buộc hũ rượu cần. Cách bài trí này cho thấy tiếp khách và sinh hoạt cộng đồng giữ vai trò quan trọng trong không gian sống của người La Ha.

Hôn nhân và gia đình người La Ha được tổ chức như thế nào?

Gia đình người La Ha là gia đình nhỏ, theo chế độ phụ hệ. Không chỉ con cái mang họ bố mà vợ cũng phải mang họ chồng. Con gái không được thừa kế tài sản.

Về hôn nhân, người La Ha theo chế độ một vợ một chồng, nhưng hôn nhân mang tính chất mua bán, thể hiện ở khoản tiền cưới gọi là nang khả pom (giá đầu người) để trả ơn bố mẹ vợ, cùng với tục ở rể. Tuy vậy, trai gái được tự do tìm hiểu, không có sự ép buộc của cha mẹ.

Trình tự hôn nhân diễn ra theo các bước được ghi nhận như sau. Sau thời gian tìm hiểu từ 3 đến 10 ngày, người con trai nói với bố mẹ để cử người đi dạm. Nhà gái nhận trâu và đưa áo của cô gái cho bên nhà trai xem bói. Nhà gái chia trầu cho họ hàng để hỏi ý kiến, ai không đồng ý thì trả lại trầu. Trong 5 ngày, nếu nhà gái không trả lại trầu cho nhà trai thì có nghĩa là nhà gái đồng ý, và 10 ngày sau người con trai đến nhà gái bắt đầu ở rể, làm công cho bố mẹ vợ. Thời gian ở rể kéo dài từ 4 đến 8 năm. Hết hạn ở rể mới bắt đầu tổ chức lễ cưới chính thức gọi là thu mà phu (làm cơm rượu). Sau lễ cưới này, cô dâu được đón về nhà chồng, đổi họ theo họ chồng và không quay về ở với bố mẹ đẻ nữa, kể cả khi chồng chết.

Trường hợp người đàn bà goá đi bước nữa, người chồng thứ hai mang lễ cưới nhỏ gọi là thu cơi poọng (làm gà báo cưới) đến gia đình người chồng thứ nhất, chứ không cần có quan hệ gì với bố mẹ của người đàn bà goá. Người đàn bà goá đi bước nữa vẫn quan niệm rằng khi chết đi, hồn sẽ tìm về với người chồng chính thức đã làm lễ thu mà phu. Vì vậy, ở một số nơi, nếu bố mẹ đã chết cả mà chưa làm được lễ cưới thu mà phu thì con phải làm lễ cưới đó cho bố mẹ, để bố mẹ được sống với nhau ở thế giới bên kia.

Tập tục thờ cúng của người La Ha có những nét gì đáng chú ý?

Người La Ha thờ tổ tiên trong gian nhà gọi là hóng, tương tự như cách bài trí của người Thái. Thầy cúng được gọi là một lao, có nhiệm vụ cúng gọi hồn và đuổi tà ma. Hàng năm hoặc hai đến ba năm một lần, một lao làm lễ cúng tổ tiên của mình và các vị thần linh khác.

Trong số các vị thần linh được thờ, thần dương vật (linga) và thần cung kiếm được xem là đáng sợ hơn cả. Bởi vậy, bàn thờ của một lao bao giờ cũng có hình nộm dương vật, kiếm và cái mộc.

Người La Ha có một hệ thống kiêng kỵ khá chi tiết trong sinh hoạt. Cụ thể, họ kiêng đem rau xanh, lá xanh, vật màu xanh và thịt sống vào cửa bên ở của gia đình, mà phải mang những thứ đó vào cửa của bên khách. Khi đặt nồi, chảo lên bếp phải đặt hai quai theo hướng nằm ngủ của người trong gia đình, kiêng không để quai nồi, chảo theo hướng của hai cửa ra vào, vì đó là hướng đặt người chết trước khi đem chôn. Khi trong nhà có người chết, tất cả những điều kiêng kỵ trên đều được huỷ bỏ và làm ngược lại.

Về tang ma, người La Ha không có tục đốt xác như người Thái Đen mà đem chôn. Thi hài được liệm bằng vải hoặc bằng chiếu nan, khiêng ra đến mộ mới bỏ vào quan tài và hạ huyệt. Nếu người chết là bố, người con trai cầm dao phá nơi thờ cũ để đuổi ma bậc ông đi, bắt đầu thờ ma bố. Nếu người chết là mẹ, con trai cầm dao đập vào phên chỗ mẹ ngủ, tượng trưng cho việc đuổi ma bậc bà đi để bắt đầu thờ ma mẹ.

Vị trí đặt người chết cũng theo quy định rõ ràng: người chết được đặt nằm dọc theo cây xà ngang. Nếu là bố thì đặt nằm dưới cây xà ngang thứ nhất, nếu là mẹ thì đặt dưới cây xà ngang thứ hai, nếu là con trai cả thì đặt nằm dưới cây xà ngang thứ ba. Khi khiêng người chết đi chôn, nếu là bố thì khiêng ra cửa gian khách (quản), nếu là mẹ thì phá vách trước khiêng ra, nếu là con thì khiêng ra cửa sàn.

Trên huyệt, người ta đã dựng sẵn một cái nhà nhỏ có hai mái cao chừng 2m. Mái nhà mồ lợp bằng gianh dỡ một phần từ mái nhà ở mang ra. Người chết là bố thì dỡ gianh ở phía đầu chỗ ngủ để lợp, là mẹ thì dỡ gianh ở mái nhà phía chân chỗ ngủ, là con trai thì dỡ gianh mái hồi phía sàn phơi thóc, là con gái thì dỡ gianh ở mái hồi phía sàn để nước. Trong nhà mồ đặt những thứ cần thiết cho một cuộc sống như giỏ cơm, quần áo, chăn, đệm. Sau khi đưa đám trở về nhà, người ta thường khua cối giã gạo để xua ma không quấy phá gia đình.

Lễ hội và văn nghệ của người La Ha có gì đặc trưng?

Hai điệu múa đặc trưng của người La Ha là múa dương vật (linga) và múa cung kiếm. Hai điệu múa này gắn với hệ thống thờ cúng đã nêu ở trên, cụ thể là việc thờ thần dương vật và thần cung kiếm, hai vị thần được xem là đáng sợ hơn cả trong hệ thống thần linh của người La Ha.

Cần lưu ý rằng các nguồn tư liệu hiện có mô tả hai điệu múa này trong bối cảnh nghi lễ và thờ cúng, chứ không ghi nhận chúng như những lễ hội dân gian tổ chức định kỳ theo mùa vụ. Cách hiểu phổ biến là đây là các điệu múa nghi lễ, gắn với không gian thiêng của cộng đồng.

Bên cạnh đó, người La Ha hát và làm thơ bằng tiếng Thái khá thạo, theo ghi nhận của các tài liệu dân tộc học. Điều này cho thấy đời sống văn nghệ của người La Ha gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ và văn hoá Thái trong vùng.

Trang phục và ăn uống của người La Ha được mô tả như thế nào?

Về trang phục, trước kia đàn ông La Ha búi tóc sau gáy, nhưng đến nay chỉ còn vài cụ già và thầy cúng giữ tục này. Đàn bà nhuộm răng đen và mặc giống người Thái Đen. Một số nơi, phụ nữ còn đeo thêm tạp dề ở phần váy trước hoặc khoác trên lưng khi rét.

Cách búi tóc của phụ nữ La Ha có sự khác biệt giữa các nơi và có liên quan đến tình trạng hôn nhân. Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi tóc trên đỉnh đầu, giống người Thái Đen. Tuy nhiên, có nơi từ em bé gái đến bà cụ già chỉ có một cách búi duy nhất là trên đỉnh đầu. Cũng có nơi, do ảnh hưởng của người Thái Trắng, phụ nữ chỉ vấn tóc trần hoặc búi tóc sau gáy, không phân biệt có chồng hay chưa.

Về ăn uống, lương thực chính của người La Ha là gạo nếp, chế biến theo cách đồ thành xôi, nay đã chuyển sang ăn cơm tẻ. Thực phẩm thường được ướp chua, nướng, lùi hoặc sấy khô để dành. Phụ nữ La Ha có tục ăn trầu.

Quan hệ xã hội truyền thống của người La Ha được tổ chức ra sao?

Người La Ha sống theo làng bản, đứng đầu là Khun cai. Hai người giúp việc cho Khun cai là Khun tang và Khun téng, do dân cử ra. Đây là thiết chế quản lý cộng đồng mang tính tự quản, phù hợp với quy mô làng bản và điều kiện sống ở vùng núi.

Một điểm cần lưu ý là các nguồn tư liệu hiện có mô tả thiết chế này ở mức khái quát, chưa đi sâu vào cơ chế bầu cử, nhiệm kỳ hay phạm vi quyền hạn cụ thể của từng chức danh. Cách hiểu thận trọng là Khun cai giữ vai trò điều hành làng bản, còn Khun tang và Khun téng hỗ trợ trong các công việc cụ thể.

Vì sao dân tộc La Ha được xếp vào nhóm ngôn ngữ Ka Đai?

Việc xếp tiếng La Ha vào nhóm ngôn ngữ Ka Đai thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai là kết quả của công tác phân loại ngôn ngữ học, dựa trên các đặc điểm ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của tiếng nói. Cách phân loại này được ghi nhận thống nhất trong các tài liệu về dân tộc La Ha, trong đó có tài liệu của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Cần phân biệt giữa xếp loại ngôn ngữ và xếp loại dân tộc. Tiếng La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, nhưng dân tộc La Ha là một thành phần dân tộc riêng trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam. Việc phân loại ngôn ngữ học không đồng nhất với việc phân định thành phần dân tộc.

Cũng cần lưu ý rằng trong thực tế sinh sống, người La Ha sử dụng tiếng Thái trong nhiều hoạt động văn hoá, tôn giáo và giao tiếp với các dân tộc láng giềng. Đây là hiện tượng đa ngữ và giao lưu ngôn ngữ phổ biến ở vùng Tây Bắc, không làm thay đổi việc tiếng La Ha vẫn là tiếng mẹ đẻ của dân tộc này.

Người La Ha trong bối cảnh cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam hiện nay

Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019, dân số La Ha tăng từ 8.177 người lên 10.157 người trong vòng một thập kỷ. Đây là mức tăng đáng kể, phản ánh sự thay đổi về dân số của cộng đồng trong bối cảnh chung của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Các dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có người La Ha, sinh sống thành cộng đồng, đan xen với nhau và với dân tộc Kinh. Các vùng miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa là nơi cư trú tập trung của nhiều dân tộc thiểu số. Đây cũng là vùng có xuất phát điểm kinh tế xã hội thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước, đồng thời chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiên tai.

Trong bối cảnh đó, các giá trị văn hoá truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số, bao gồm người La Ha, đang đứng trước những thách thức về bảo tồn và trao truyền. Các tập tục như ở rể dài ngày, hệ thống kiêng kỵ trong nhà, các điệu múa nghi lễ và cách búi tóc theo tình trạng hôn nhân đều là những nét văn hoá cần được ghi nhận và nghiên cứu một cách khách quan, trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt giữa các cộng đồng và giữa các nhóm địa phương trong cùng một dân tộc.

Các tư liệu hiện hành cho thấy một số nét văn hoá của người La Ha có sự tương đồng với người Thái ở Tây Bắc, như cách thờ tổ tiên trong gian hóng, cách búi tóc của phụ nữ, hay việc sử dụng lịch Thái. Sự tương đồng này là kết quả của quá trình giao lưu văn hoá lâu dài trong cùng một không gian sinh thái và lịch sử, không phải là sự sao chép hay phụ thuộc văn hoá.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc La Ha có bao nhiêu người và sống chủ yếu ở đâu?

Theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019, dân tộc La Ha có 10.157 người, tăng so với mức 8.177 người của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Địa bàn cư trú được ghi nhận trong Danh sách các dân tộc Việt Nam là hai tỉnh Yên Bái và Sơn La.

Tiếng nói của người La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, ngữ hệ Thái - Ka Đai. Trong đời sống văn hoá, người La Ha trước kia học chữ Thái, hát và làm thơ bằng tiếng Thái khá thạo, đồng thời dùng lịch của người Thái.

Người La Ha thờ cúng những gì và có điệu múa nào đặc trưng?

Người La Ha thờ tổ tiên trong gian nhà gọi là hóng. Ngoài tổ tiên, họ còn thờ các vị thần linh khác, trong đó thần dương vật (linga) và thần cung kiếm được xem là đáng sợ hơn cả, nên bàn thờ của thầy cúng một lao luôn có hình nộm dương vật, kiếm và cái mộc. Hai điệu múa đặc trưng của dân tộc là múa dương vật (linga) và múa cung kiếm.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc, Người La Ha
  2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Danh sách các dân tộc Việt Nam
  3. Dân tộc miền núi, Dân tộc La Ha
  4. Báo Nhân Dân, Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcLaHa#54dântộcViệtNam#dântộcthiểusốTâyBắc#nhómngônngữKaĐai#vănhóaLaHa