Dân tộc Mông là ai và có bao nhiêu người?
Dân tộc Mông là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam, có tên tự gọi là Mông hoặc Na Miẻo. Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979, dân tộc này mang tên chính thức là HMông, tên gọi khác gồm Mèo, Mẹo, Mán, Miêu Tộc. Cách gọi "Mèo" từng quen dùng trong văn viết cũ, nhưng tên chính thức hiện nay là Mông.
Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, dân tộc Mông có 1.393.547 người. Trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 1.068.189 người. Sự chênh lệch phản ánh cả mức tăng dân số tự nhiên và phạm vi điều tra khác nhau giữa hai cuộc tổng điều tra.
Về nhóm địa phương, người Mông ở Việt Nam được phân thành các ngành chính gồm Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh và Na Miẻo. Cần phân biệt rõ: đây là các ngành trong nội bộ dân tộc Mông, không phải các dân tộc riêng biệt. Cách phân chia này chủ yếu dựa trên đặc điểm trang phục, sắc màu vải và một số khác biệt trong tập quán.
Người Mông cư trú ở những đâu?
Theo Danh sách các dân tộc Việt Nam do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ công bố, địa bàn cư trú của người Mông gồm Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Thái. Đây đều là các tỉnh miền núi phía bắc và bắc Trung Bộ, nơi địa hình chia cắt, độ cao lớn.
Người Mông quần tụ thành từng bản, mỗi bản thường vài chục nóc nhà. Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có khuôn viên riêng, ngăn cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét. Kiểu nhà phổ biến là nhà trệt ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa, gian giữa đặt bàn thờ. Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến hơn là nhà bưng ván hoặc vách nứa, mái tranh. Lương thực được cất trữ trên sàn gác, một số nơi có nhà kho dựng ngay cạnh nhà. Chuồng gia súc được lát ván cao ráo.
Tiếng Mông thuộc ngữ hệ nào và tình trạng chữ viết ra sao?
Tiếng nói của người Mông thuộc ngữ hệ Mông - Dao. Đây là một trong những ngữ hệ lớn ở khu vực miền núi phía bắc Việt Nam, bao gồm cả tiếng Dao và một số ngôn ngữ liên quan.
Về chữ viết, theo nguồn của Ủy ban Dân tộc, chữ Mông được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi, nhưng đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến. Đây là điểm đáng lưu ý: nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam có chữ viết riêng hoặc chữ viết được xây dựng muộn, và mức độ sử dụng trong đời sống thường ngày không đồng đều giữa các vùng.
Người Mông làm nương và trồng những cây gì?
Nguồn sống chính của người Mông là làm nương định canh hoặc nương du canh, trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu.
Chiếc cày của người Mông nổi tiếng về độ bền và tính hiệu quả. Trồng lanh, dệt vải lanh là hoạt động sản xuất đặc sắc. Trước đây, người Mông còn trồng thuốc phiện, một tập quán gắn với lịch sử kinh tế vùng cao, nay không còn phổ biến. Các loại cây ăn quả như táo, lê, đào, mận cũng được trồng.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển hiệu quả trên vùng cao núi đá, và con ngựa rất gần gũi với từng gia đình. Ngoài ra, người Mông phát triển các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc. Các thợ thủ công phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp, làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, đồ đựng bằng gỗ ghép.
| Nhóm địa phương | Đặc điểm trang phục nữ |
|---|---|
| Mông Trắng | Trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau; cạo tóc để chỏm, đội khăn rộng vành |
| Mông Hoa | Váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, vai và ngực đắp vải màu và thêu; để tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả |
| Mông Đen | Váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực |
| Mông Xanh | Váy ống; phụ nữ đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài lược móng ngựa, đội khăn tạo hình như hai cái sừng |
Tập tục thờ cúng của người Mông gồm những gì?
Trong nhà người Mông có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng các vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin, người ta thường đeo bùa để lấy khước.
Mỗi gia đình Mông đều có bàn thờ ở gian giữa nhà. Biểu trưng cho nơi thờ là vài tờ giấy bản có tráng kim ở giữa, đóng trên vách và được thay vào dịp Tết hàng năm. Mỗi khi cúng, người ta lấy lông gà chấm vào tiết rồi dán lên tờ giấy bản đó.
Bên cạnh thờ cúng trong nhà, người Mông còn thờ cúng chung thổ thần của bản. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung này. Người Mông rất coi trọng dòng họ, bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng của mỗi họ thể hiện ở nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng; ở nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ. Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời, qua cách trao đổi các đặc trưng trên vẫn có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng và tin nghe.
Gia đình người Mông là gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu sau lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Theo nguồn của Ủy ban Dân tộc, tục cướp vợ từng phổ biến.
Lễ hội và Tết của người Mông diễn ra khi nào?
Tết năm mới truyền thống của người Mông bắt đầu từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn Tết Nguyên đán khoảng một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống. Đây là điểm khác biệt đáng chú ý so với người Kinh và nhiều dân tộc khác.
Trong ngày Tết, dân làng thường chơi còn, chơi đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Trai gái Mông vui chơi ca hát, múa khèn, tung còn, đánh cầu lông gà, đánh quay. Chơi quay là trò chơi phổ biến ở hầu hết các dân tộc miền Bắc, nhưng mỗi dân tộc có cách đánh quay riêng.
Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng 5 âm lịch. Ngoài hai tết chính, tùy từng nơi còn có các tết vào ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 âm lịch. Việc tổ chức tết không hoàn toàn giống nhau giữa các địa phương và các nhóm Mông.
Về văn nghệ, thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn và trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá và đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Chợ phiên và ẩm thực có vai trò thế nào trong đời sống?
Chợ phiên là nơi giao lưu trao đổi hàng hóa, gặp gỡ bạn bè, trai gái, là sinh hoạt đặc trưng của người Mông ở vùng cao biên giới. Người ta thồ hàng hóa trên lưng ngựa đến chợ: ngô, rau, củi và nhiều thứ khác. Đàn ngựa thồ quần tụ trên bãi để ngựa ở chợ Bắc Hà (Lào Cai), Đồng Văn (Hà Giang) là nét văn hóa đặc trưng ở vùng cao.
Về ẩm thực, người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn có mèn mén (bột ngô đồ) hoặc cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào ngày tết, ngày lễ. Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Đưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Thắng cố là món ăn được ưa thích, gồm các loại thịt, xương, lòng, gan, tim, phổi bò hoặc dê cắt miếng nhỏ nấu chung trong chảo to, thường nấu trong bữa đám hoặc ở chợ phiên.
Vẽ sáp ong và nhuộm chàm tạo hoa văn như thế nào?
Vẽ bằng sáp ong và nhuộm chàm là cách tạo hoa văn đặc trưng của người Mông, đồng thời cũng gặp ở người Dao. Người phụ nữ dùng bút chấm sáp ong nóng chảy để vẽ hoa văn lên tấm vải lanh trắng. Vẽ xong, tấm vải được nhuộm chàm nhiều lần cho đến khi đạt màu đen vừa ý. Sau đó, vải được nhúng vào nước nóng cho sáp ong tan ra, để lại những hoa văn màu trắng trên nền chàm xanh. Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu là hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Câu hỏi thường gặp
Người Mông và người Mèo có phải là một dân tộc không?
Có. "Mèo" là tên gọi khác đã từng quen dùng để chỉ dân tộc Mông, bên cạnh các tên gọi khác như Mẹo, Mán, Miếu Hạ, Mán Trắng. Tên chính thức theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam là HMông, thường viết là Mông. Các nhóm Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh là các ngành trong nội bộ dân tộc Mông, không phải các dân tộc riêng.
Người Mông ăn Tết vào thời điểm nào trong năm?
Theo nguồn của Ủy ban Dân tộc, Tết năm mới truyền thống của người Mông bắt đầu từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn Tết Nguyên đán khoảng một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng 5 âm lịch. Tùy từng nơi còn có các tết vào ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 âm lịch.
Người Mông thờ cúng những gì trong nhà?
Trong nhà người Mông có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng các vị tổ sư nghề của mình. Biểu trưng cho nơi thờ tổ tiên là vài tờ giấy bản có tráng kim ở giữa, đóng trên vách và được thay vào dịp Tết hàng năm. Ngoài ra, bản còn thờ chung thổ thần.
