
TL;DR: Hướng Đông Bắc là cung Cấn, thuộc Tây tứ trạch theo Bát Trạch, nên hợp với người Tây tứ mệnh và không hợp với người Đông tứ mệnh, du niên cụ thể tùy cung phi. Cách xem theo ngũ hành dựa vào nạp âm năm sinh và không phân biệt nam nữ, nên có thể cho kết luận khác ở một số tuổi. Muốn biết chính xác, hãy tra cung phi ở tiện ích xem hướng nhà đất của site, nhập năm âm lịch.
Hướng Đông Bắc hợp với ai theo Bát Trạch?
Theo Bát Trạch, hướng Đông Bắc ứng với cung Cấn, thuộc nhóm Tây tứ trạch. Với người thuộc nhóm Tây tứ mệnh, đây là một trong bốn hướng tốt; với người Đông tứ mệnh, đây là hướng xấu, và du niên cụ thể tùy từng cung phi. Muốn biết chính xác, cần tra cung phi của mình trước.
Cung phi tính từ năm sinh và giới tính, chia thành tám cung. Đông tứ mệnh gồm Khảm (1), Chấn (3), Tốn (4), Ly (9). Tây tứ mệnh gồm Khôn (2), Càn (6), Đoài (7), Cấn (8). Mỗi cung phi có bốn hướng tốt là Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị và bốn hướng xấu là Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh, gọi chung là tám du niên.
Bảng dưới đây cho biết hướng Đông Bắc là du niên nào với từng cung phi, kèm năm sinh nam và nữ trong khoảng 1950 tới 2009 theo cách tính của tiện ích.
| Cung phi | Nhóm | Hướng Đông Bắc là | Tốt hay xấu | Nam sinh năm | Nữ sinh năm |
|---|---|---|---|---|---|
| Khảm (1) | Đông tứ mệnh | Ngũ Quỷ | xấu | 1954, 1963, 1972, 1981, 1990, 1999, 2008 | 1950, 1959, 1968, 1977, 1986, 1995, 2004 |
| Khôn (2) | Tây tứ mệnh | Sinh Khí | tốt | 1950, 1953, 1959, 1962, 1968, 1971, 1977, 1980, 1986, 1989, 1995, 1998, 2004, 2007 | 1951, 1960, 1969, 1978, 1987, 1996, 2005 |
| Chấn (3) | Đông tứ mệnh | Lục Sát | xấu | 1952, 1961, 1970, 1979, 1988, 1997, 2006 | 1952, 1961, 1970, 1979, 1988, 1997, 2006 |
| Tốn (4) | Đông tứ mệnh | Tuyệt Mệnh | xấu | 1951, 1960, 1969, 1978, 1987, 1996, 2005 | 1953, 1962, 1971, 1980, 1989, 1998, 2007 |
| Càn (6) | Tây tứ mệnh | Thiên Y | tốt | 1958, 1967, 1976, 1985, 1994, 2003 | 1955, 1964, 1973, 1982, 1991, 2000, 2009 |
| Đoài (7) | Tây tứ mệnh | Diên Niên | tốt | 1957, 1966, 1975, 1984, 1993, 2002 | 1956, 1965, 1974, 1983, 1992, 2001 |
| Cấn (8) | Tây tứ mệnh | Phục Vị | tốt | 1956, 1965, 1974, 1983, 1992, 2001 | 1954, 1957, 1963, 1966, 1972, 1975, 1981, 1984, 1990, 1993, 1999, 2002, 2008 |
| Ly (9) | Đông tứ mệnh | Họa Hại | xấu | 1955, 1964, 1973, 1982, 1991, 2000, 2009 | 1958, 1967, 1976, 1985, 1994, 2003 |
Như vậy, cùng một hướng Đông Bắc, người cung Khôn gặp Sinh Khí, người cung Càn gặp Thiên Y, người cung Đoài gặp Diên Niên, người cung Cấn gặp Phục Vị, đều là tốt. Ngược lại, người cung Khảm gặp Ngũ Quỷ, cung Chấn gặp Lục Sát, cung Tốn gặp Tuyệt Mệnh, cung Ly gặp Họa Hại, đều là xấu.
Vì sao xem theo ngũ hành và theo Bát Trạch lại ra hai kết luận khác nhau?
Hai cách này đo hai thứ khác nhau. Bát Trạch dựa vào cung phi, tính từ năm sinh và giới tính, rồi so cung phi với hướng để ra tám du niên. Cách xem theo ngũ hành chỉ so hành nạp âm của can chi năm sinh với hành của hướng, và không phân biệt nam nữ. Vì vậy cùng một tuổi, nam và nữ có thể khác cung phi, dẫn tới hai kết luận trái ngược.
Ví dụ nam sinh 1970 (Canh Tuất, nạp âm Thoa Xuyến Kim, hành Kim) có cung phi Chấn, Đông tứ mệnh, hướng Đông Bắc là Lục Sát (xấu). Trong khi đó, so ngũ hành thì Kim với Thổ của hướng là tương sinh, nên cách ngũ hành nói hợp. Nữ sinh 1971 (Tân Hợi, cũng Thoa Xuyến Kim, hành Kim) có cung phi Tốn, Đông tứ mệnh, hướng Đông Bắc là Tuyệt Mệnh (xấu), nhưng ngũ hành vẫn nói Kim với Thổ tương sinh.
Chiều ngược lại cũng có. Nữ sinh 1972 (Nhâm Tý, Tang Đố Mộc, hành Mộc) có cung phi Cấn, Tây tứ mệnh, hướng Đông Bắc là Phục Vị (tốt), trong khi ngũ hành nói Mộc khắc Thổ. Nam sinh 1974 (Giáp Dần, Đại Khê Thủy, hành Thủy) có cung phi Cấn, Tây tứ mệnh, hướng Đông Bắc là Phục Vị (tốt), trong khi ngũ hành nói Thủy bị Thổ khắc.
Khi hai cách vênh nhau, tiện ích xem hướng nhà của site đi theo Bát Trạch. Bài này không phán cách nào đúng, chỉ nêu cả hai để người đọc biết mình đang xem theo hệ nào.
Tính cung phi và tra tám hướng ở đâu?
Cách tính cung phi như sau: cộng hai chữ số cuối của năm sinh rồi rút về một chữ số. Với nam sinh trước 2000, lấy 10 trừ số ấy; từ 2000 trở đi lấy 9 trừ. Với nữ sinh trước 2000, lấy số ấy cộng 5; từ 2000 trở đi cộng 6. Kết quả lại rút về một chữ số. Cung phi 5 không có quẻ riêng: nam quy về Khôn (2), nữ quy về Cấn (8).
Hai lưu ý khi tra. Thứ nhất, năm dùng là năm âm lịch, nên người sinh tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch trước Tết phải lấy năm trước. Thứ hai, tiện ích nhận năm người dùng nhập, vì vậy hãy nhập năm âm lịch để ra đúng cung phi.
Muốn tra tám hướng của chính mình, bạn vào tiện ích xem hướng nhà đất của site, nhập năm âm lịch và giới tính, hệ thống sẽ trả về cung phi cùng bốn hướng tốt và bốn hướng xấu.
Tọa hay hướng, và chuyện gọi tên trạch
Theo sách Bát Trạch Minh Kính, tên trạch được gọi theo phía tọa, tức phía lưng nhà. Nhà hướng Đông Bắc thì tọa Tây Nam, tức tọa cung Khôn, nên gọi là Khôn trạch, thuộc Tây tứ trạch. Với hướng này, tọa và hướng cùng một nhóm, nên gọi theo tọa hay theo hướng đều ra một nhóm.
Cách phổ biến hiện nay và tiện ích của site lại xét hướng nhà, tức hướng cửa, với tám du niên của cung phi. Với bốn hướng Đông, Tây, Đông Nam, Tây Bắc, hai cách này ra hai nhóm ngược nhau; với Bắc, Nam, Đông Bắc, Tây Nam thì trùng nhau. Đây là chỗ các sách và cách làm không đồng nhất, nên nêu rõ để người đọc biết mình đang theo hệ nào.
Góc Đông Bắc là cung tri thức, học vấn
Ngoài Bát Trạch, nhiều tài liệu phong thủy chia tám góc nhà theo lĩnh vực đời sống, và góc Đông Bắc thường được gán cho tri thức, học vấn. Đây là một quan niệm khác, không phải câu trả lời cho câu hỏi hợp mệnh nào. Có thể tận dụng góc này để đặt bàn học, kệ sách, máy tính nếu muốn hỗ trợ việc học, nhưng đừng trộn nó với phần xét du niên ở trên.
Bố trí nội thất hướng Đông Bắc
Theo cách xem ngũ hành, hướng Đông Bắc thuộc hành Thổ của quẻ Cấn. Những gợi ý dưới đây lấy hành của hướng làm căn cứ, nên được hiểu là theo cách xem ngũ hành.
| Hạng mục | Nên dùng | Nên tránh |
|---|---|---|
| Màu sắc | Kem, lục nhạt, vàng đất | Xanh dương, đen |
| Vật liệu, vật phẩm | Sành sứ, thạch cao, đất sét, gốm | Vật sắc nhọn, kim loại quá nhiều |
| Khu vực | Bàn học, kệ sách, máy tính, bàn làm việc | Nhà vệ sinh, nhà tắm, bếp, lò sưởi |
| Trạng thái | Gọn gàng, thông thoáng | Bừa bộn, bụi bẩn |
Hướng Đông Bắc nên dùng màu sắc nào?
Theo cách xem ngũ hành, màu kem, lục nhạt và vàng đất thuộc hành Thổ, hợp với hướng này. Có thể dùng cho tường, rèm, thảm hoặc phụ kiện ở khu vực Đông Bắc. Hạn chế xanh dương và đen vì thuộc hành Thủy.
Vật phẩm hỗ trợ phong thủy hướng Đông Bắc là gì?
Theo cách xem ngũ hành, nên dùng đồ sành sứ, thạch cao, đất sét, gốm vì cùng hành Thổ. Đặt bàn học, kệ sách, máy tính ở góc này được cho là hỗ trợ việc học, nhưng đó là theo quan niệm cung tri thức, không phải theo du niên. Hạn chế kim loại quá nhiều vì Thổ sinh Kim, có thể làm giảm năng lượng của cung Cấn.
Những điều cần tránh với hướng nhà Đông Bắc
Theo cách xem ngũ hành, không nên đặt nhà vệ sinh hoặc nhà tắm ở khu vực Đông Bắc vì đây là nơi tích tụ uế khí. Tránh biến góc này thành chỗ chứa đồ lộn xộn, bụi bẩn. Cũng không nên đặt bếp hoặc lò sưởi ở đây nếu không cần thiết, vì Hỏa khí quá mạnh có thể làm mất cân bằng hành Thổ.
Nếu không hợp hướng thì hóa giải thế nào?
Nếu theo Bát Trạch mà bạn thuộc nhóm không hợp với hướng Đông Bắc, cách hóa giải được sách Bát Trạch nhắc tới là đặt cửa chính, phòng ngủ, bếp theo bốn hướng tốt của cung phi mình. Sách Bát Trạch coi cửa, phòng chủ và bếp là ba yếu tố chính của nhà ở, gọi là dương trạch tam yếu. Nếu theo cách xem ngũ hành mà bạn mệnh Mộc, có thể dùng thêm yếu tố Thủy để tạo tương sinh gián tiếp, nhưng đây chỉ là gợi ý theo cách xem ngũ hành, không thay thế việc xét tổng thể ngôi nhà.
Kết hợp nguyên tắc chung cho ngôi nhà như thế nào?
Ngoài phần hướng Đông Bắc, các nguyên tắc chung vẫn nên áp dụng cho toàn bộ ngôi nhà. Giữ lối đi chính thông thoáng để dòng khí lưu thông. Đặt sofa tựa lưng vào tường, hướng ra cửa chính để tạo cảm giác an toàn. Có thể dùng cây xanh lá tròn, xanh tốt như kim tiền, trầu bà, ngọc bích để tăng sức sống, tránh cây có gai nhọn. Cân bằng ngũ hành trong không gian sống bằng cách phối màu và chất liệu hài hòa, không dồn một hành quá mạnh ở một khu vực.
