Cúng giỗ hết (Đại tường)
Còn gọi: Giỗ thứ hai, Giỗ mãn tang, Hết tang
- Gia tiên, giỗ chạp
Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.
Theo tục, giỗ hết là giỗ cuối trong vòng tang, thường làm long trọng hơn giỗ đầu; sau giỗ này người nhà bỏ tang phục. Từ năm thứ ba trở đi giỗ thành giỗ thường.
Tóm tắt
- Làm ngày nào
- Năm thứ hai sau ngày mất; có nơi ghi 2 năm 3 tháng sau ngày mất. Hôm trước có lễ cáo thần linh
- Cúng ai
- Hương linh người mất; gia tiên nội ngoại; Thổ thần, Táo quân, Long mạch được khấn trước
- Nơi cúng
- Bàn thờ gia tiên
- Ai cúng
- Con cháu; sau lễ này bỏ tang phục
Mỗi nhà, mỗi vùng có thể làm khác.
Mâm cúng
Hương, đèn, nến
- Hương (nhang)
Hoa
- Hoa tươi
Quả
- Trái cây (hoa quả)
Xôi, bánh
- Oản
- Xôi
Món mặn
- Thịt lợn (không nói cách làm)
- Tôm
- Cua
- Gà (không nói cách làm)
Vàng mã
- Vàng mã
Cả nước
- Làm lúc nào
- Ngày mất của người quá cố trong năm thứ hai; hôm trước khấn cáo thần linh
| Lễ vật | Chay, mặn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Vàng mã | ||
| Vàng mã, hương, hoa, phẩm oản | Chay | |
| Quả | ||
| Trái cây theo mùa | Chay | |
| Món mặn | ||
| Mâm lễ mặn: thịt lợn, tôm, cua, xôi, gà | Mặn | Có nơi ghi giỗ hết làm long trọng |
Miền Bắc
Đồng bằng Bắc Bộ, Hà Nội, Dân gian
- Làm lúc nào
- Kỳ giỗ đánh dấu tang chế sắp hoặc đã hết; thời điểm không giống nhau ở mọi nhà
| Lễ vật | Chay, mặn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Món mặn | ||
| Cỗ giỗ: gà luộc, xôi, giò, nem, canh măng, bóng, mọc, nấm | Mặn | Các món hay có trong cỗ Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ |
| Xôi, bánh | ||
| Bát cơm đầy, quả trứng luộc, chút muối | Mặn | Theo ký ức một số làng ngoại thành, không phải lễ bắt buộc |
Nghi thức
Dùng chung cả nước, Dân gian
- KhấnHôm trước: khấn Thổ Công, Táo quân, Long mạch, cáo rằng mai là ngày giỗ hết
- KhấnChính ngày: khấn gia tiên, mời hương linh người được giỗ
- Sau lễ người nhà bỏ tang phục (hết tang)
- Sau giỗ hết chọn ngày tốt làm lễ cải cát
Đồng bằng Bắc Bộ, Hà Nội, Dân gian
- Giỗ đầu và giỗ hết có thể tổ chức rộng, mời họ hàng làng xóm
- Các kỳ giỗ sau chủ yếu mời anh em, con cháu, người thân gần
Kiêng kỵ
Chưa có nguồn nói về điều kiêng của lễ này.
Phong tục
Phan Kế Bính (1915) gọi giỗ hết là lễ đại tường; ông ghi từ khi khâm liệm cho tới tiểu tường, đại tường, tuần tiết nào nhà giàu cũng tế bái linh đình, nhà nghèo cúng cấp, và đều mời họ mạc, khách khứa.
Chỗ các nguồn nói khác nhau
- Thời điểm: có hướng dẫn ghi giỗ hết là giỗ "vào 2 năm 3 tháng sau ngày mất"; có hướng dẫn ghi làm vào ngày mất trong năm thứ hai; bài văn tế của hướng dẫn thứ nhất lại viết "hăm bốn tháng tròn"
- Bỏ tang phục: có hướng dẫn ghi sau lễ giỗ hết người nhà bỏ tang phục; Phan Kế Bính ghi hai năm thì giỗ hết, sau đại tường hai tháng mới chọn ngày làm lễ trừ phục gọi là đàm tế, bấy giờ mới bỏ hết đồ tang
Hỏi đáp
Giỗ hết là 2 năm hay 3 năm?
Giỗ hết là ngày giỗ thứ hai: Phan Kế Bính (1915) ghi hai năm thì giỗ hết (đại tường), sau đó hai tháng mới làm lễ đàm tế bỏ hết tang phục; có hướng dẫn ghi làm vào ngày mất trong năm thứ hai, có hướng dẫn ghi 2 năm 3 tháng sau ngày mất. Con số ba năm là hạn để tang: Phan Kế Bính ghi sau giỗ đầu vẫn mặc tang cho hết ba năm.
Tiểu tường và đại tường là gì?
Tiểu tường là giỗ đầu, làm khi được một năm; đại tường là giỗ hết, làm khi được hai năm (Phan Kế Bính, 1915). Ông ghi giữa hai kỳ ấy có hai lần đốt mã: lần đầu gọi là mã biếu, lần sau mới là mã dâng người mất.
Cộng đồng và vùng
Nguồn
- Văn khấn Thổ Thần, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần Linh trước Lễ Đại Tường, Giỗ Hết (tuvi.vn)
- Văn khấn Lễ Tiểu Tường và Lễ Đại Tường, Giỗ Đầu, Giỗ thứ Hai (tuvi.vn)
- Việt Nam phong tục, thiên I chương IX Tang ma (vi.wikisource.org)
Thuộc bộ dữ liệu mở Loại lễ cúng Việt Nam và Nghi thức cúng Việt Nam, giấy phép CC BY 4.0.
Xem các lễ khácGiỗ chạp, Tết, nhà cửa, làm ăn, vòng đời, lễ làng và lễ các dân tộc.Mở