Gom phong tục Việt về một mối: kho tri thức 155 lễ, 7 vùng văn hoá

Ảnh: This is Thảo (CC BY-SA), nguồn
Từ hơn 700 trang nguồn, hàng chục cuốn sách khảo cứu và hồ sơ di sản, nhóm phát triển Nhật Nguyệt đã dựng một kho tri thức về phong tục, lễ cúng của người Việt, ghi theo vùng văn hoá và dân tộc, mỗi dữ kiện kèm nguồn.
Cùng là lễ giỗ, nhiều gia đình ở đồng bằng Bắc Bộ cúng tiên thường từ chiều hôm trước, còn không ít nhà ở Nam Bộ chỉ cúng đúng ngày. Người Tày mời thầy Then, người Khơ-me lên chùa làm lễ. Những khác biệt ấy có thật nhưng hiếm khi được ghi ở một chỗ. Người muốn tìm hiểu phải dò qua hàng chục trang mạng chép lại của nhau, phần lớn không cho biết điều mình viết lấy từ đâu. Bài Truyền thống phân mảnh và dễ bị lợi dụng đã kể vì sao chuyện ấy xảy ra.
Thay vì viết thêm bài lẻ, Nhật Nguyệt chọn dựng một khung chung để mọi lễ được ghi theo cùng một cách: chu kỳ và ngày âm, nơi cúng, đối tượng được thờ, dân tộc và vùng văn hoá, trình tự, lễ vật, điều kiêng kỵ. Từng mục gắn với nguồn của riêng nó.
Nguồn tư liệu
Phần nền là sách khảo cứu, phần lớn đã thuộc phạm vi công cộng: *Việt Nam phong tục* của Phan Kế Bính (1915), *Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca* của Nguyễn Liên Phong (1909), *Việt Nam văn hoá sử cương* của Đào Duy Anh (1938), *Nếp cũ* của Toan Ánh (1969) và *Vũ trung tùy bút* của Phạm Đình Hổ. Bên cạnh là các công trình gần đây của Ngô Đức Thịnh về tín ngưỡng, Trần Ngọc Thêm về cơ sở văn hoá Việt Nam, Đinh Khắc Thuân về tục thờ Thành hoàng qua tư liệu Hán Nôm.
Nhóm còn đối chiếu hồ sơ đề cử UNESCO của Hội Gióng, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Thực hành Then, hồ sơ lý lịch lễ của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hoá Hội An, cùng tài liệu của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Ban Tôn giáo Chính phủ. Báo chí chỉ được dùng khi nằm trong danh sách 124 nguồn đã duyệt, gồm 68 tờ báo có giấy phép.
Riêng văn khấn được thu từ 717 trang nguồn. Lời khấn giữ nguyên văn, không sửa chữ, không dịch. Sách còn bản quyền chỉ dùng để đối chiếu, không lấy lời khấn.
Chia theo vùng, lọc bài trùng
Khung địa lý của kho theo cách phân vùng văn hoá của GS. Ngô Đức Thịnh, gồm 7 vùng:
- Đồng bằng Bắc Bộ
- Việt Bắc
- Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ
- Duyên hải Bắc Trung Bộ
- Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ
- Trường Sơn, Tây Nguyên
- Nam Bộ
Danh mục dân tộc theo bảng 54 dân tộc chính thức ban hành năm 1979.
Khi gom văn khấn, nhóm gặp nhiều bài chép lại của nhau, chỉ khác vài chữ. Bài trùng gần như hoàn toàn được gộp làm một, chỉ giữ dị bản khác biệt thật. Ngày âm trong mọi lễ được tính lại bằng chính lõi lịch của Nhật Nguyệt. Câu không có nguồn bị loại. Trình tự của các lễ chỉ dành cho người trong cộng đồng không được công bố.

Kho hiện có gì
Đến nay kho có 155 lễ chia thành 15 nhóm, từ rằm, mùng một đến cưới hỏi, tang ma và lễ làng; 438 bài văn khấn, mỗi bài một trang; 232 loại lễ vật và 176 câu hỏi đáp về cách cúng; trang riêng cho 7 vùng văn hoá và 16 dân tộc.
Ngoài kho phong tục, bản đồ tri thức liên kết 633 bài viết về lễ Tết, lễ hội, nghi lễ vòng đời và tín ngưỡng dân gian. Lịch lễ hội có gần 200 lễ, ghi kèm tên gọi khác và nơi tổ chức. Sáu bộ dữ liệu về lễ cúng được công bố ở trang Dữ liệu mở theo giấy phép CC BY 4.0.
Những khoảng trống còn lại
Kho đã đủ khung cho mọi vùng, nhưng nội dung còn chênh lệch. Trong 464 bài văn khấn đã thu, 354 bài đến từ nguồn không ghi rõ vùng miền; riêng miền Bắc mới có 10 bài được gắn đúng vùng. Mới 29 trên 155 lễ qua lần soát thứ hai. 38 trong 54 dân tộc chưa có trang riêng, phần lớn vì tư liệu đã công bố về họ còn rất ít.
Nhật Nguyệt sẽ tiếp tục bổ sung theo góp ý của người đọc. Chỗ nào được sửa sau khi đăng sẽ được ghi công khai ở trang Đính chính.
Xem kho tại Phong tục Việt và Văn cúng.


