Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Văn hoá Việt Bắc và vùng Đông Bắc: hát Then, chợ phiên và nếp sống bản làng

Chia sẻ:
Văn hoá Việt Bắc và vùng Đông Bắc: hát Then, chợ phiên và nếp sống bản làng

Ảnh: Christopher Crouzet / flickr (CC BY 2.0)

TL;DR: Việt Bắc là tên gọi gắn với vùng căn cứ cách mạng thời kháng chiến, còn Đông Bắc là cách gọi địa lý, hành chính hiện nay. Hai vùng chồng lấn nhưng không đồng nhất. Hát Then đã được UNESCO ghi danh năm 2019, là di sản chung của người Tày, Nùng, Thái với nhiều dị bản theo từng tỉnh. Chợ phiên và nếp sống bản làng cũng biến đổi theo địa hình, tộc người và giao thương, không có một bản chuẩn duy nhất để đo mọi nơi.

Việt Bắc và Đông Bắc có phải là một vùng không?

Không hẳn. Đây là hai cách gọi có nguồn gốc và phạm vi khác nhau, dù chúng chồng lấn lên nhau khá nhiều trên bản đồ.

Việt Bắc là tên gọi gắn với lịch sử chính trị: vùng căn cứ địa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, bao gồm nhiều tỉnh miền núi phía bắc. Cách gọi này xuất hiện trước hết trong ngữ cảnh quân sự, hành chính và sau đó đi vào văn học, âm nhạc, trở thành một khái niệm văn hoá.

Đông Bắc là cách gọi thuần địa lý, dùng để chỉ vùng đất phía đông bắc của miền Bắc Việt Nam. Trong các sự kiện văn hoá đương đại, phạm vi này thường được xác định cụ thể theo danh sách tỉnh tham gia.

Một ví dụ: Ngày hội Văn hoá, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ XI năm 2024 diễn ra tại Lạng Sơn với sự tham gia của 8 tỉnh: Hà Giang, Bắc Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Lạng Sơn. Danh sách này cho thấy phạm vi Đông Bắc trong thực tế hành chính có thể mở rộng hoặc thu hẹp tuỳ theo cách tổ chức, không cố định như một khái niệm địa lý thuần tuý.

Tiêu chíViệt BắcĐông Bắc
Nguồn gốc tên gọiLịch sử chính trị, kháng chiếnĐịa lý, hành chính
Phạm viThường gắn với vùng căn cứ, có thể bao gồm cả Tây Bắc trong một số ngữ cảnh lịch sửCác tỉnh phía đông bắc, danh sách thay đổi tuỳ sự kiện
Cách dùng phổ biếnVăn học, lịch sử, ký ức tập thểQuy hoạch, sự kiện văn hoá, du lịch
Tính chấtKhái niệm mềm, gắn ký ứcKhái niệm có thể liệt kê được

Điểm cần lưu ý: hai khái niệm này không loại trừ nhau. Một tỉnh như Cao Bằng hay Bắc Kạn có thể nằm trong cả hai cách gọi. Tranh luận về việc tỉnh nào thuộc Việt Bắc, tỉnh nào thuộc Đông Bắc thường không có hồi kết vì mỗi cách gọi phục vụ một mục đích khác nhau.

Hát Then là gì và vì sao được UNESCO ghi danh?

Hát Then là một loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm ca, nhạc, múa và diễn trò, gắn với thực hành nghi lễ của người Tày, Nùng, Thái. Ngày 12/12/2019, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ Di sản Văn hoá Phi vật thể lần thứ 14 của UNESCO ở Bogotá, Colombia, di sản "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" đã chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hoá Phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo tư liệu của VietnamPlus, "Then" trong tiếng Tày được phiên âm là "Stiêng" hay "Thiên", nghĩa là Tiên, Trời. Hát Then vì thế được hiểu là "điệu hát thần tiên". Trong đời sống của người Tày cổ, hát Then được dùng trong những sự kiện trọng đại hoặc các lễ cầu an, cầu mùa, gọi hồn.

Ai thực hành Then và thực hành như thế nào?

Người thực hành Then là các bà Then, ông Then, hay còn gọi là thầy Then. Khi hành lễ, thầy Then mặc lễ phục, vừa hát tiếng dân tộc mình vừa gảy đàn tính, xóc chùm xóc nhạc, phất quạt. Có buổi lễ còn có tốp nữ múa phụ hoạ. Thầy Then thường sử dụng các đồ vật như kiếm trừ tà, thanh âm dương, chuông để thực hiện nghi lễ tại nhà tín chủ, ngoài trời, hoặc tại bàn thờ Then ở nhà riêng.

Theo mô tả trên VietnamPlus, lời bài hát Then hoà trong nhịp đàn tính dìu dặt cùng tiếng xóc lúc khoan nhịp, lúc dồn dập, đưa thầy Then đến với Mường Trời để cầu xin thần linh cứu giúp con người. Người hát Then trong các dịp lễ, tết đóng vai trò đại diện cộng đồng giao tiếp với thần linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no.

Then được trao truyền bằng truyền khẩu trong quá trình thực hành nghi lễ. Các thầy Then giữ vai trò chính trong việc chuyển giao kỹ năng và bí quyết. Điều này lý giải vì sao Then không có một văn bản chuẩn duy nhất mà tồn tại dưới dạng nhiều dị bản.

Nguồn gốc Then: các giả thuyết chưa thống nhất

Cho đến nay, chưa ai xác định chính xác quá trình ra đời và phát triển của Then. Có ý kiến khẳng định Then được "khai sinh" từ Cao Bằng để phục vụ đời sống tinh thần người dân lao động. Cũng có ý kiến cho rằng Then phát sinh từ vùng Đông Bắc, cụ thể là Lạng Sơn. Các nguồn không thống nhất về điểm này, và bài viết ghi nhận sự không thống nhất đó thay vì chọn một bên.

Hát Then ở mỗi tỉnh có giống nhau không?

Không giống hoàn toàn. Về cơ bản, hát Then và đàn tính ở mỗi vùng miền đều có cung quãng giống nhau, nhưng lời hát có nhiều dị bản để phù hợp với đặc điểm và phong tục của từng địa phương.

VietnamPlus dẫn nhận xét của giới nghiên cứu về sự khác biệt này:

  • Then Lạng Sơn: dìu dặt, tha thiết
  • Then Tuyên Quang: dồn dập như thúc quân ra trận
  • Then Hà Giang: nhấn nhá từng tiếng
  • Then Bắc Kạn: như tiếng thì thầm

Đây là những mô tả cảm nhận về phong cách, không phải bảng xếp hạng. Việc một làn điệu dìu dặt hơn hay dồn dập hơn không hàm ý làn điệu nào đúng chuẩn hơn. Khác biệt phản ánh điều kiện sinh hoạt, không gian diễn xướng và truyền thống truyền khẩu của từng cộng đồng.

Nghệ nhân Then và việc truyền dạy đang diễn ra ra sao?

Việc truyền dạy Then hiện nay diễn ra qua nhiều kênh: gia đình, lớp truyền dạy do cơ quan văn hoá tổ chức, và các câu lạc bộ ở cơ sở.

Báo Nhân Dân ghi nhận trường hợp Nghệ nhân Ưu tú Mỗ Thị Kịt ở thôn Ngọc Trí, xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Cụ sinh ra trong vùng được coi là cái nôi hát Then của người Tày, Nùng ở xứ Lạng, về làm dâu một gia đình đã có tám, chín đời làm Then. Đến năm 2019, cụ đã 97 tuổi và vẫn tham gia các lễ Lẩu then. Cụ đã truyền dạy được 12 học trò trở thành thầy hát Then.

Một trường hợp khác là Nghệ nhân Ưu tú Mông Thị Sấm, sinh năm 1939 tại thôn Pò Tang, xã Hợp Thành, huyện Cao Lộc, Lạng Sơn. Gia đình bà cũng có tám, chín đời làm Then. Đến thời điểm bài báo năm 2019, bà đã làm Then được 64 năm và trực tiếp truyền nghề cho 17 học trò. Các học trò của bà tiếp tục truyền dạy cho 19 người khác.

Về phía tổ chức lớp học, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam đã tổ chức xây dựng mô hình bảo tồn nghệ thuật hát Sli, hát Lượn, Phong slư, hát Then cho 50 nghệ nhân, người có uy tín và học viên dân tộc Tày tại xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Đây là hoạt động thuộc Dự án 6 về bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.

Tại Lạng Sơn, từ năm 2009, Trung tâm Văn hoá thông tin tỉnh đã thành lập Câu lạc bộ Đàn và hát dân ca. Ngày đầu có 12 người tham gia, đến thời điểm bài báo năm 2019 đã thu hút hơn 300 hội viên, trẻ nhất 16 tuổi, cao tuổi nhất 76 tuổi, gồm các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh. Từ câu lạc bộ này, 10 câu lạc bộ khác được thành lập ở các huyện, thành phố trong tỉnh.

Chợ phiên vùng Đông Bắc có đặc điểm gì?

Chợ phiên là điểm gặp gỡ định kỳ của cư dân nhiều xã, nhiều tộc người trong một khu vực. Chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là dịp giao lưu, trao đổi thông tin và gặp gỡ.

Các nguồn tham khảo trong bài này không đi sâu vào chi tiết chợ phiên cụ thể ở từng địa phương. Vì vậy, phần này chỉ nêu những đặc điểm chung có thể quan sát được từ bối cảnh văn hoá vùng, không gán cho một địa phương hay một dân tộc cụ thể điều mà nguồn không ghi nhận.

Điểm đáng lưu ý: chợ phiên ở vùng Đông Bắc thường gắn với chu kỳ nông nghiệp và các ngày nhất định trong tháng âm lịch. Nhịp chợ phụ thuộc vào khoảng cách địa lý giữa các xã, vào mùa vụ và vào tập quán của từng nhóm cư dân. Không có một mô hình chợ phiên chung cho toàn vùng.

Nếp sống bản làng gắn với địa hình và tộc người như thế nào?

Nếp sống bản làng ở vùng Đông Bắc và Việt Bắc chịu ảnh hưởng của địa hình núi đá, thung lũng và các dòng sông. Ở những nơi địa hình chia cắt, các bản làng thường phân bố theo các thung lũng hoặc triền đồi. Ở những nơi có sông lớn, giao thương đường thuỷ đóng vai trò quan trọng hơn.

Các tộc người khác nhau có tập quán canh tác, cư trú và tổ chức xã hội khác nhau. Người Tày, Nùng thường gắn với ruộng nước ở thung lũng. Các nhóm khác có thể gắn với nương rẫy hoặc các hình thức canh tác khác. Sự đa dạng này tạo nên bức tranh văn hoá nhiều lớp, không có một khuôn mẫu chung.

Điều cần tránh là gán cho toàn bộ một dân tộc hay toàn bộ một vùng một tập tục duy nhất. Các nguồn chỉ ghi nhận tập tục ở một địa phương cụ thể thì bài viết cũng chỉ nêu trong phạm vi đó.

Vì sao cùng một di sản lại có nhiều dị bản?

Đây là câu hỏi then chốt để hiểu văn hoá vùng miền. Then, chợ phiên và nếp sống bản làng đều được trao truyền bằng truyền khẩu hoặc bằng thực hành. Khi không có văn bản chuẩn, mỗi thế hệ và mỗi cộng đồng điều chỉnh để phù hợp với điều kiện cụ thể của mình.

Kết quả là các dị bản. Dị bản không phải là sai lệch so với một bản gốc, mà là kết quả tự nhiên của quá trình trao truyền trong các bối cảnh khác nhau. Cách hiểu này giúp tránh việc xếp hạng nơi này giữ gìn tốt hơn nơi kia, hoặc nghi thức của vùng nọ bài bản hơn vùng kia.

Một điểm nữa: hát Then hiện nay đã có nhiều biến đổi so với trước kia. Ngoài các làn điệu Then cổ thường được trình diễn ở các buổi lễ tín ngưỡng với nghi thức nhất định, đã xuất hiện nhiều làn điệu cải biên để thích ứng trong các hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ cộng đồng. Một số đồng bào Tày, Nùng, Thái khi chuyển đến sinh sống ở các tỉnh phía Nam đã mang theo nghệ thuật truyền thống này, và Then tiếp tục duy trì sức sống trong cộng đồng mới.

Các tỉnh vùng Đông Bắc tổ chức bảo tồn văn hoá ra sao?

Ngày hội Văn hoá, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc được tổ chức định kỳ, mỗi lần do một tỉnh đăng cai. Lần thứ XI năm 2024 diễn ra tại Lạng Sơn từ ngày 2 đến 4/11 với sự tham gia của 8 tỉnh.

Các hoạt động trong khuôn khổ ngày hội gồm: trình diễn và giới thiệu trích đoạn lễ hội, nghi thức sinh hoạt văn hoá truyền thống dân tộc; không gian trưng bày sản phẩm văn hoá truyền thống của địa phương; hội thảo khoa học về du lịch văn hoá vùng Đông Bắc; liên hoan văn nghệ quần chúng và trình diễn trang phục các dân tộc; thi đấu các môn thể thao dân tộc; triển lãm về đặc trưng văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc.

Bên cạnh đó, các dự án bảo tồn cụ thể được triển khai ở từng địa phương. Năm 2023, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam thực hiện 6 chương trình tại Thái Nguyên và Cao Bằng, gồm các mô hình như nghệ thuật Rối cạn của dân tộc Tày ở xã Bình Yên, huyện Định Hoá, Thái Nguyên; hát Sọong Cô của dân tộc Sán Dìu ở xã Nam Hoà, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên; hát Sli của dân tộc Nùng ở huyện Đồng Hỷ; mô hình phát huy nghệ thuật múa Chầu trong diễn xướng Then của người Tày ở xã Trọng Con, huyện Thạch An, Cao Bằng; bảo tồn nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Tày tại xóm Luống Nọi, xã Ngọc Đào, huyện Hà Quảng, Cao Bằng.

Năm 2024, các chương trình tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu, phục hồi và bảo tồn nghề dệt của người Dao Tiền tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình; bảo tồn hát Páo dung và thêu trang phục truyền thống của người Dao Tiền tại thôn Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Vậy khác biệt giữa các vùng nên được hiểu thế nào?

Khác biệt về làn điệu, về lời hát, về nhịp chợ, về cách tổ chức bản làng là nội dung chính mà người tìm hiểu văn hoá vùng miền cần nắm. Đây là những khác biệt có thật, có thể quan sát và ghi nhận.

Điều không nên làm là biến khác biệt thành thứ bậc. Không có bản gốc của hát Then để các dị bản khác bị đo theo. Không có mô hình chợ phiên chuẩn để các chợ khác bị coi là kém hơn. Không có nếp sống bản làng điển hình để các nơi khác bị đánh giá là lệch.

Cách tiếp cận này phù hợp với thực tế là các nguồn tư liệu cũng không thống nhất với nhau về nhiều điểm, ví dụ như nguồn gốc của Then. Khi nguồn không thống nhất, việc ghi nhận sự không thống nhất là cách trung thực hơn là chọn một bên rồi trình bày như thể chỉ có một cách hiểu.

Câu hỏi thường gặp

Việt Bắc và Đông Bắc có phải là cùng một vùng không?

Không hẳn. Việt Bắc là tên gọi gắn với lịch sử chính trị, chỉ vùng căn cứ địa thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Đông Bắc là cách gọi địa lý, hành chính hiện nay. Hai khái niệm chồng lấn nhưng không đồng nhất, và phạm vi cụ thể của Đông Bắc có thể thay đổi tuỳ sự kiện hoặc văn bản.

Hát Then của mỗi tỉnh có giống nhau không?

Không giống hoàn toàn. Về cơ bản, hát Then và đàn tính ở mỗi vùng miền có cung quãng giống nhau, nhưng lời hát có nhiều dị bản để phù hợp với đặc điểm và phong tục từng địa phương. Các nguồn ghi nhận sự khác biệt về phong cách giữa Then Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn. Đây là khác biệt về sắc thái, không phải thứ bậc đúng sai.

Thực hành Then được UNESCO ghi danh khi nào?

Ngày 12/12/2019, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ Di sản Văn hoá Phi vật thể lần thứ 14 của UNESCO diễn ra tại Bogotá, Colombia, di sản "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" đã chính thức được ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hoá Phi vật thể đại diện của nhân loại.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Tuyên truyền Dân tộc và Miền núi (TTXVN)
  2. Báo Văn hoá
  3. VietnamPlus
  4. Báo Nhân Dân

Nội dung này có giúp được bạn không?

#hátThen#vănhoáViệtBắc#vùngĐôngBắc#chợphiên#bảnlàng#disảnphivậtthể