
TL;DR: Bát Trạch xét hướng bàn làm việc theo tuổi bằng cách tính cung mệnh (quái số) từ năm sinh và giới tính, rồi đối chiếu với tám hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam để chọn hướng thuộc nhóm Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Đây là quy ước của một phái phong thủy, không phải kết luận khoa học. Bài trình bày cách tính, bảng tra tám hướng theo cung mệnh, cách đo hướng bàn bằng la bàn và những điểm các sách còn nói khác nhau.
Bát Trạch xét hướng bàn làm việc theo tuổi dựa trên cơ sở nào?
Bát Trạch là một phái phong thủy lấy tám quái trong Kinh Dịch làm khung phương vị, rồi chia người và nhà thành hai nhóm Đông tứ mệnh, Tây tứ mệnh để luận cát hung. Với bàn làm việc, phái này xét hướng của người ngồi (hướng mặt nhìn hoặc hướng lưng tựa, tùy trường phái) chiếu theo cung mệnh của chủ nhân. Cung mệnh ấy tính từ năm sinh và giới tính, nên mới có cách nói tắt là xem hướng bàn làm việc theo tuổi.
Cần nói ngay để người đọc khỏi hiểu lầm: đây là quy ước của một phái huyền học, không phải một quan hệ nhân quả đã được kiểm chứng. Cùng một tuổi, các sách có thể cho hướng khác nhau, và bản thân việc chọn hướng bàn còn phụ thuộc mặt bằng thực tế, ánh sáng, lối đi, vị trí cửa. Bài này theo quy ước phổ biến của Bát Trạch lưu hành ở Việt Nam, có đối chiếu với các sách đã dẫn, và ghi rõ chỗ nào các nguồn không thống nhất.
Cung mệnh tính từ năm sinh như thế nào?
Cung mệnh (còn gọi là quái mệnh, quái số) lấy năm sinh âm lịch và giới tính làm đầu vào. Cách tính phổ biến: cộng hai chữ số cuối của năm sinh, cộng tiếp cho tới khi còn một chữ số. Với người sinh từ 1900 tới 1999, nam lấy 10 trừ số ấy, nữ lấy 5 cộng số ấy; với người sinh từ 2000 trở đi, nam lấy 9 trừ, nữ lấy 6 cộng. Kết quả còn hai chữ số thì cộng tiếp cho tới khi còn một, nam ra 0 thì tính là 9. Quái số chạy từ 1 đến 9, trong đó 5 được quy về 2 (Khôn) với nam và 8 (Cấn) với nữ. Một số sách dùng công thức khác nhưng cho cùng kết quả, vì bản chất đều là lấy số dư của năm sinh theo chu kỳ 9.
Có hai điểm dễ nhầm. Thứ nhất, năm sinh phải xét theo âm lịch: người sinh vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch mà trước Tết Nguyên Đán thì thuộc năm âm lịch trước đó, nên phải đối chiếu lịch. Thứ hai, giới tính trong Bát Trạch chỉ có nam và nữ; các trường hợp khác không có quy ước riêng trong sách cổ, người hành nghề hiện nay thường hỏi người xem muốn lấy theo giới tính sinh học nào.
Ví dụ theo cách tính này: người nam sinh năm 1990, cộng 9+0 = 9, lấy 10 trừ 9 được 1, quái số 1 là Khảm, thuộc Đông tứ mệnh. Người nữ cùng năm: lấy 5 cộng 9 được 14, cộng 1+4 = 5, nữ quy 5 về 8, quái số 8 là Cấn, thuộc Tây tứ mệnh. Chỉ một năm sinh mà hai giới đã khác nhóm, nên không thể nói hướng bàn tốt theo tuổi mà bỏ qua giới tính.
Tám hướng tốt xấu của mỗi cung mệnh được xếp ra sao?
Mỗi quái số có bốn hướng tốt và bốn hướng xấu, xếp theo thứ tự Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị (tốt) và Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát, Họa hại (xấu). Thứ tự này suy ra từ quan hệ ngũ hành và biến hào giữa tám quái, là quy ước của phái Bát Trạch, không phải phép tính độc lập kiểm chứng được như lịch pháp.
Bảng dưới đây là bảng tra tám hướng theo quái số, tổng hợp theo cách trình bày thường gặp trong các sách Bát Trạch lưu hành ở Việt Nam. Cột hướng ghi theo la bàn, mỗi hướng ứng với một quái trong hậu thiên bát quái.
| Quái số | Cung mệnh | Nhóm | Bốn hướng tốt (Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị) | Bốn hướng xấu (Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát, Họa hại) |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Khảm | Đông tứ mệnh | Đông Nam, Đông, Nam, Bắc | Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, Tây |
| 2 | Khôn | Tây tứ mệnh | Đông Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam | Bắc, Đông Nam, Nam, Đông |
| 3 | Chấn | Đông tứ mệnh | Nam, Bắc, Đông Nam, Đông | Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam |
| 4 | Tốn | Đông tứ mệnh | Bắc, Nam, Đông, Đông Nam | Đông Bắc, Tây Nam, Tây, Tây Bắc |
| 6 | Càn | Tây tứ mệnh | Tây, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc | Nam, Đông, Bắc, Đông Nam |
| 7 | Đoài | Tây tứ mệnh | Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Tây | Đông, Nam, Đông Nam, Bắc |
| 8 | Cấn | Tây tứ mệnh | Tây Nam, Tây Bắc, Tây, Đông Bắc | Đông Nam, Bắc, Đông, Nam |
| 9 | Ly | Đông tứ mệnh | Đông, Đông Nam, Bắc, Nam | Tây Bắc, Tây, Tây Nam, Đông Bắc |
Bảng này chỉ là công cụ tra cứu. Điều quan trọng là biết mình đang tra theo sách nào, vì thứ tự bốn hướng tốt có thể đảo giữa các sách, và một số sách còn đặt nặng hướng Sinh khí hơn ba hướng còn lại.
Hướng bàn làm việc nên hiểu là hướng nào?
Đây là chỗ các sách không thống nhất, cần nói rõ. Có ba cách hiểu đang lưu hành. Cách thứ nhất lấy hướng mặt người ngồi nhìn tới, tức hướng của thân người. Cách thứ hai lấy hướng lưng tựa, tức phương ngược lại. Cách thứ ba lấy hướng của mặt bàn hoặc hướng cửa phòng làm việc.
Sách Sử dụng la bàn khi nói về đo hướng kiến trúc thì lấy hướng lưng của công trình làm gốc để luận, và dùng đường chữ thập hoặc Thiên tâm thập đạo trên la bàn để xác định[1].
Với bàn làm việc, cách hiểu phổ biến trong các sách Bát Trạch là lấy hướng người ngồi nhìn tới, vì đó là hướng "nạp khí" của người làm việc. Lối tọa hướng thì phải xét cả hướng lưng tựa. Người đọc nên chọn một quy ước và giữ nhất quán, thay vì lúc thì xét hướng mặt, lúc lại xét hướng lưng để được cả hai đều tốt.
Làm sao đo hướng bàn làm việc cho đúng?
Đo hướng là bước dễ sai nhất, vì la bàn hiện đại chịu ảnh hưởng của sắt thép, màn hình, loa, điện thoại đặt gần. Sách Sử dụng la bàn khuyên đặt la bàn thăng bằng, có thể rải gạo dày dưới đáy cho cân, và đặt ngoại bàn dựa theo tường kiến trúc để đo, dù cách này hơi sai lệch[1]. Với bàn làm việc trong phòng kín, nên đo ở giữa phòng hoặc ở vị trí đặt bàn, tránh đặt la bàn sát kim loại, và đo hai lần ở hai vị trí khác nhau để đối chiếu.
Sách Sử dụng la bàn cũng nêu cách xác định phương vị theo Bát Trạch: đặt la bàn ở điểm trung tâm mặt bằng kiến trúc, chia mặt bằng thành tám phương vị theo bát quái, rồi xem cửa chính hoặc vị trí đồ vật nằm ở cung nào để luận cát hung[1]. Với bàn làm việc, có thể làm tương tự: xác định tâm phòng, chia tám cung, rồi xem bàn nằm ở cung nào và người ngồi quay mặt về cung nào.
Một lưu ý về đơn vị: mỗi hướng trong bát quái không phải một đường thẳng mà là một khoảng. Sách Phong thủy thực hành trong xây dựng và kiến trúc nhà ở ghi mỗi phương vị tốt xấu rộng 45 độ lại chia thành ba phương vị cung, mỗi cung 15 độ, tạo thành 24 cung phương vị la bàn, và nói nếu thực tế không cho phép đo chi tiết thì chỉ cần chọn được một trong tám hướng chính là tốt rồi[2].
Những trường hợp cụ thể nên xử lý thế nào?
Bàn làm việc không thể xoay theo hướng tốt
Đây là trường hợp phổ biến nhất ở văn phòng cho thuê, nơi mặt bằng cố định. Sách Phong thủy thực hành trong xây dựng và kiến trúc nhà ở thừa nhận rằng ở nhiều nơi phải theo quy chế quy hoạch, không còn quyền chọn hướng khí theo ý muốn, nên chỉ còn dựa vào phép phong thủy để giải quyết những thiếu sót về hướng nhà, hướng cửa, hướng bếp, hướng bàn thờ[2]. Với bàn làm việc, cách xử lý của phái Bát Trạch thường là giữ nguyên hướng bàn nhưng điều chỉnh hướng ngồi, hoặc đặt thêm vật chắn, hoặc chuyển sang xét hướng của cả phòng thay vì hướng bàn.
Người Đông tứ mệnh ngồi hướng Tây tứ
Theo logic Bát Trạch, đây là hướng xấu và nên tránh nếu xoay được. Nhưng cần nhớ đây là quy ước của phái, không phải lời cảnh báo về sức khỏe hay tài chính. Nếu không xoay được, nên ưu tiên hướng nhìn ra cửa hoặc hướng có ánh sáng tự nhiên, vì điều kiện làm việc thực tế quan trọng hơn việc chạy theo một hướng trong bảng tra.
Hai người cùng phòng, khác cung mệnh
Bát Trạch không có quy tắc chung cho nhiều người dùng chung một bàn. Người theo phái thường lấy người trực tiếp sử dụng bàn làm chủ, hoặc lấy người có trách nhiệm chính trong phòng. Trường hợp vợ chồng hoặc đồng nghiệp ngồi đối diện thì mỗi người tự xét hướng ngồi của mình, không gán hướng bàn cho cả hai.
Các phái nói khác nhau ở đâu?
Điểm khác thứ nhất là cách hiểu hướng, đã nêu ở trên: hướng mặt hay hướng lưng. Điểm khác thứ hai là có xét thêm Phi tinh hay không. Bát Trạch chỉ xét tám hướng theo cung mệnh, còn phái Huyền Không Phi Tinh xét thêm vận, sơn và hướng của cả căn nhà. Sách Tìm hiểu Cổ dịch Huyền không học của Hồ Kinh Quốc và cộng sự (2001) ghi la bàn xét theo học phái thì chia thành bàn tam nguyên và bàn tam hợp; khi bàn chuyện chọn ngày, sách nói chỉ cần xác định rõ mục đích là tránh khí hung sát, đặc biệt là hung sát của năm tháng, vì nếu ngày nào giờ nào cũng làm theo quy định thì người ta không có cách nào làm việc được[3]. Tinh thần ấy áp dụng được cho cả việc chọn hướng bàn: đừng để quy tắc lấn át công việc thật.
Điểm khác thứ ba là thứ tự ưu tiên bốn hướng tốt. Một số sách đặt Sinh khí lên đầu và coi đó là hướng duy nhất đáng theo, số khác lại cho rằng với bàn làm việc nên ưu tiên Thiên y hoặc Phục vị vì liên quan sức khỏe và sự ổn định. Không có sự đồng thuận, và bản thân các sách cũng không đưa ra lý do kiểm chứng được.
Có nên đặt nặng hướng bàn làm việc theo tuổi không?
Không nên. Bát Trạch là một hệ quy ước có logic nội tại, đáng tham khảo như một cách sắp xếp không gian, nhưng không có cơ sở để khẳng định hướng bàn quyết định năng suất hay thành công. Những yếu tố ảnh hưởng rõ ràng hơn đến công việc là ánh sáng, tiếng ồn, tư thế ngồi, khoảng cách tới cửa, và sự riêng tư. Nếu hướng bàn theo Bát Trạch trùng với một trong những yếu tố ấy thì tốt; nếu mâu thuẫn, nên ưu tiên điều kiện làm việc thật.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: hãy dùng bảng tra như một bước tham khảo cuối cùng, sau khi đã chọn được vị trí bàn hợp lý về ánh sáng và lối đi. Nếu cung mệnh cho ra hướng tốt mà hướng ấy khiến người ngồi quay lưng ra cửa hoặc chắn lối, thì giữ vị trí cũ và điều chỉnh bằng hướng ngồi hoặc bằng cách bố trí lại phòng.
