Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Vùng miền

Văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ: tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ Cầu Ngư và đời sống làng biển

Chia sẻ:
Văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ: tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ Cầu Ngư và đời sống làng biển
TL;DR: Tín ngưỡng thờ cá Ông (thần Nam Hải) và lễ Cầu Ngư là hai trụ cột tinh thần của cư dân duyên hải Nam Trung Bộ, gắn với nghề biển truyền thống và nhu cầu được che chở trước hiểm nguy trên biển. Lễ Cầu Ngư ở Khánh Hòa đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014. Các địa phương trong vùng có chung nền tảng tín ngưỡng nhưng khác nhau về quy mô, nghi thức và mức độ kết hợp với văn hóa Chăm, tạo nên sự đa dạng không có một bản chuẩn duy nhất.

Tín ngưỡng thờ cá Ông và lễ Cầu Ngư là gì?

Tín ngưỡng thờ cá Ông (còn gọi là thần Nam Hải) là việc cư dân ven biển tôn kính cá voi như một vị thần hộ mệnh, dựng lăng, đình, miếu để thờ tự và cúng tế. Lễ Cầu Ngư là nghi lễ tập thể được tổ chức sau Tết Nguyên đán hằng năm, khi bước vào mùa biển mới, nhằm tạ ơn thần Nam Hải, tưởng nhớ tiền nhân và cầu cho một vụ mùa đánh bắt thuận lợi. Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ: lễ Cầu Ngư bắt nguồn từ tục thờ thần Nam Hải và lấy nghi thức cúng tế tại lăng thờ cá Ông làm phần quan trọng nhất.

Nguồn gốc và quá trình hình thành

Tín ngưỡng thờ cá Ông ở Nam Trung Bộ không có một mốc khởi đầu được xác định chính xác. Theo các vị cao niên cư dân miền biển, tục lệ này có từ xa xưa và đã trở thành tín ngưỡng văn hóa dân gian. Các nhà nghiên cứu ghi nhận tín ngưỡng thờ thần Nam Hải của cư dân vùng biển Khánh Hòa có từ rất lâu đời, dựa trên sự hiện diện của hoành phi, đại tự, câu đối, văn tế và đặc biệt là sắc phong tại nhiều di tích.

Các sắc phong sớm nhất cho thần Nam Hải ở Khánh Hòa được tìm thấy vào niên đại Minh Mệnh 3 (1822) tại các di tích như đình Bình Tân, đình Xương Huân (Nha Trang), đình Lăng Trường Tây (Ninh Hòa). Các sắc phong muộn nhất có niên đại Khải Định 9 (1924). Đây là những làng, xã sớm có lịch sử hình thành trong bản đồ địa chí của tỉnh.

Về mặt khảo cổ, di chỉ Bích Đầm trên đảo Hòn Tre (phường Vĩnh Nguyên, TP Nha Trang) được khai quật và xác định thuộc nền văn hóa Xóm Cồn - Nha Trang có niên đại hơn 4.000 năm. Đây là một nền văn hóa biển tiêu biểu ở Khánh Hòa, được xem là chiếc cầu nối các văn hóa đương thời ở lưu vực sông Đồng Nai với khu vực miền trungTây Nguyên. Văn hóa Xóm Cồn là văn hóa hướng ra biển, một trong những cội nguồn của văn hóa Sa Huỳnh, cho thấy tư duy biển đã in đậm trong dấu ấn văn hóa của con người trên mảnh đất này từ mấy nghìn năm trước.

Cơ chế hình thành và đặc trưng văn hóa biển Nam Trung Bộ

Văn hóa của các địa phương ven biển Nam Trung Bộ hình thành từ sự giao thoa, tiếp biến về kinh tế, văn hóa và đời sống sinh hoạt, tâm linh của cư dân hướng biển và gắn liền với biển. Những giá trị này được lưu giữ qua nhiều thế hệ và thể hiện rõ trong nghề biển truyền thống, các lễ hộitín ngưỡng dân gian cộng đồng.

Các yếu tố văn hóa biển của người Việt là kết quả ứng xử của cư dân nông nghiệp khi họ từ các cửa sông vươn ra biển. Quá trình này tạo nên tính cách đặc trưng với nét thâm trầm, kín đáo, quyết liệt bên trong mà ôn nhu, mềm dẻo, đôn hậu bên ngoài. Ở nhiều miền quê biển Nam Trung Bộ, các giá trị văn hóa biển và đời sống tâm linh luôn kết chặt và trở thành mắt xích neo lại chút hồn riêng của ngư dân.

Đặc trưng văn hóa biển là văn hóa tâm linh. Mỗi khi ra biển, ngư dân luôn tâm niệm có người mẹ chở che giông bão. Yếu tố thờ Mẫu là gốc của người Việt, nhưng khi đến vùng đất này có sự giao thoa với văn hóa Chăm, cho nên ngư dân ven biển Nam Trung Bộ đã hình thành nền văn hóa mới mang tính âm. Cũng chính những ngư dân này sáng tạo ra nhiều loại hình văn học nghệ thuật như hò bá trạo, bài chòi, hát bội, nghệ thuật hát chầu văn hầu đồng múa bóng, lễ hội cầu ngư để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần.

Lễ Cầu Ngư diễn ra như thế nào?

Lễ Cầu Ngư được ngư dân vùng biển tổ chức vào khoảng thời gian sau Tết Nguyên đán hằng năm, khi bước vào mùa biển mới. Mục đích là tạ ơn thần Nam Hải đã phù trợ cho ngư dân trong những chuyến ra khơi, tưởng nhớ các bậc tiền nhân, đồng thời cầu quốc thái dân an và mong được mùa trong vụ biển mới.

Phần quan trọng nhất của lễ hội là nghi thức cúng tế tại lăng thờ thần Nam Hải. Chủ trì nghi thức gồm bốn ông: chánh tế, bồi tế, tả ban và hữu ban, cùng bốn học trò lễ dâng rượu và đèn. Lễ hội mở đầu bằng rước thần Nam Hải về lăng và kết thúc bằng lễ cúng Tống Na, tức tiễn thần đi.

Lễ hội Cầu Ngư bảo lưu nhiều tập tục truyền thống như lễ rước sắc, lễ nghinh Ông, hò bá trạo, lễ tỉnh sanh, lễ tế chánh. Đây là sự tổng hợp các hoạt động văn hóa truyền thống, bao gồm lễ nghinh Ông trên biển, nghi thức cúng tế tại lăng thờ, lễ rước sắc phong, hò bá trạo và hát tuồng. Lễ hội còn hội tụ các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống, diễn xướng dân gian như hát bội, hò bá trạo, múa siêu và các trò chơi dân gian, tạo thành một bức tranh sinh động của ngày hội làng biển.

Hệ thống di tích thờ thần Nam Hải: quy mô và phân bố

Theo khảo sát của Trung tâm Bảo tồn di tích tỉnh Khánh Hòa, tính đến thời điểm công bố, toàn tỉnh Khánh Hòa có 52 cơ sở, di tích, điểm thờ tự thần Nam Hải. Trong số đó có 13 di tích có sắc phong với tổng số 62 lượt sắc phong cho thần Nam Hải.

Thần Nam Hải ở địa bàn Khánh Hòa và các tỉnh ven biển miền Trung được thờ tự rất đa dạng ở nhiều loại hình di tích như lăng, đình, miếu, điện. Thần có thể được thờ tự độc lập, cũng có thể được phối thờ với các vị thần khác trong cùng một di tích. Việc nhận diện chính xác tên thần Nam Hải và cơ sở thờ tự có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định chủ thể được thờ tại di tích và thực hành tín ngưỡng của người dân, đặc biệt là mỗi khi có lễ hội diễn ra.

Hiện nay, tín ngưỡng thờ cúng thần Nam Hải chủ yếu dựa vào các truyền thuyết, chuyện kể gắn với các nhân vật như Phật bà Quan Âm, Quan Công, vị thần sóng biển Pô Riyak của người Chăm. Sự đa dạng này phản ánh quá trình giao thoa văn hóa lâu dài giữa các cộng đồng cư dân ven biển.

Ví dụ cụ thể: làng biển Nam Ô và dấu tích Chăm - Việt

Làng biển Nam Ô (quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) là một trường hợp tiêu biểu cho sự chuyển tiếp giữa hai nền văn hóa Chăm - Việt. Nơi đây hiện còn nhiều dấu tích của nhiều tầng giá trị văn hóa, được dân làng gìn giữ như giếng nước Chăm, miếu Âm Linh, đền thờ Huyền Trân Công chúa và Lăng Ông Nam Ô.

Theo những người dân có nghiên cứu về mảnh đất này, không rõ làng Nam Ô có từ khi nào, nhưng có thể khẳng định chủ nhân xưa của làng chính là những người Chăm sống bằng nghề đi biển. Từ sự tiếp biến văn hóa này, truyền thống nghề biển và tục thờ cá Ông được dân làng lưu giữ. Cũng từ tín ngưỡng biển, dân làng đã chôn cất, thờ cúng nhiều ông Cá Ông.

Bảo tàng Đà Nẵng hiện đã dành riêng một không gian tái hiện, trưng bày về con người, văn hóa, lễ hội văn hóa biển. Những hình ảnh như ghe bầu, đặc trưng của người xứ Quảng nói riêng và của cư dân biển miền Nam Trung Bộ nói chung, cùng lễ hội cầu Ngư được giới thiệu như nét đẹp tiêu biểu nhất trong đời sống tâm linh, sinh hoạt văn hóa của ngư dân vùng biển Nam Trung Bộ.

So sánh giữa các địa phương trong vùng

Các địa phương duyên hải Nam Trung Bộ có chung nền tảng tín ngưỡng thờ cá Ông và lễ Cầu Ngư, nhưng không có sự đồng nhất hoàn toàn về quy mô, nghi thức và mức độ kết hợp với các yếu tố văn hóa bản địa. Bảng dưới đây tổng hợp một số khác biệt được ghi nhận trong các nguồn tham khảo:

Địa phươngĐặc điểm ghi nhận
Khánh Hòa52 cơ sở thờ tự thần Nam Hải; 13 di tích có sắc phong với 62 lượt sắc phong; sắc phong sớm nhất niên đại Minh Mệnh 3 (1822), muộn nhất Khải Định 9 (1924); Lễ hội Cầu Ngư được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014; tục thờ Mẫu chiếm vị trí quan trọng; Lễ hội Tháp Bà được công nhận Di sản văn hóa cấp quốc gia
Đà Nẵng (Nam Ô)Dấu tích chuyển tiếp văn hóa Chăm - Việt; giếng nước Chăm, miếu Âm Linh, đền thờ Huyền Trân Công chúa, Lăng Ông Nam Ô; Bảo tàng Đà Nẵng trưng bày không gian văn hóa biển; ghe bầu là hình ảnh đặc trưng
Quảng Ngãi (Lý Sơn)Tàu thuyền ngư dân gắn với đời sống biển đảo; nằm trong vùng văn hóa biển Nam Trung Bộ

Các nguồn tham khảo không đưa ra một bản chuẩn chung cho nghi thức lễ Cầu Ngư ở tất cả các địa phương. Sự khác biệt về quy mô lễ hội, số lượng di tích và mức độ phối thờ phản ánh điều kiện lịch sử, dân cư và giao lưu văn hóa riêng của từng nơi, không phải sự hơn kém.

Giá trị văn hóa và đời sống đương đại

Lễ hội Cầu Ngư và tục thờ thần Nam Hải thể hiện nét đẹp văn hóa dân gian của cư dân miền biển. Lễ hội là chiếc nôi, nguồn sữa nuôi dưỡng vốn văn hóa dân gian, truyền thống của miền đất Nam Trung Bộ, góp phần tạo nên nền tảng để xây dựng bản sắc văn hóa miền đất này.

Việc giữ gìn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu Ngư góp phần bảo lưu văn hóa truyền thống, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, minh chứng cho quá trình chinh phục và làm chủ biển đảo của cộng đồng ngư dân Khánh Hòa nói riêng và Việt Nam nói chung. Không gian văn hóa biển được trưng bày tại các bảo tàng cũng là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là không gian lưu trữ xác thực các bằng chứng liên quan đến chủ quyền và kinh nghiệm ứng xử với biển bao đời nay của ngư dân.

Ở góc độ đời sống, lễ hội Cầu Ngư còn là dịp để ngư dân gặp gỡ, chúc nhau những chuyến vươn khơi tôm cá đầy khoang. Biển mang lại nguồn lợi phong phú nhưng môi trường làm việc chứa đựng nhiều rủi ro, bất trắc, nhất là trong mùa mưa bão. Chính vì vậy, trong sinh hoạt ngư nghiệp truyền thống, ngư dân có những hình thức tín ngưỡng thờ cúng riêng để mong mưa thuận gió hòa, được các đấng thần linh che chở, bảo vệ trong những chuyến đi biển.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu

Thứ nhất, tín ngưỡng thờ cá Ông và lễ Cầu Ngư là thực hành văn hóa tín ngưỡng dân gian, không phải một hệ thống giáo lý tôn giáo có tổ chức chặt chẽ. Các nguồn tham khảo mô tả đây là tín ngưỡng văn hóa trong dân gian, dựa trên truyền thuyết và chuyện kể.

Thứ hai, mốc thời gian hình thành tín ngưỡng không được xác định chính xác trong các nguồn. Các sắc phong sớm nhất được tìm thấy có niên đại 1822, nhưng điều đó không có nghĩa tín ngưỡng chỉ bắt đầu từ thời điểm đó, mà chỉ phản ánh mốc văn bản hóa sớm nhất còn lưu giữ được.

Thứ ba, sự đa dạng trong cách thờ tự và nghi thức giữa các địa phương là đặc điểm tự nhiên của một vùng văn hóa rộng lớn, không nên lấy một địa phương làm chuẩn để đánh giá các địa phương khác.

Câu hỏi thường gặp

Tín ngưỡng thờ cá Ông ở Nam Trung Bộ có từ khi nào?

Các nguồn tham khảo chưa xác định được mốc thời gian chính xác. Theo các vị cao niên cư dân miền biển, tục lệ này có từ xa xưa và đã trở thành tín ngưỡng văn hóa dân gian. Các sắc phong sớm nhất cho thần Nam Hải ở Khánh Hòa được tìm thấy vào niên đại Minh Mệnh 3 (1822), nhưng đây chỉ là mốc văn bản hóa sớm nhất còn lưu giữ, không phải thời điểm khởi đầu của tín ngưỡng.

Lễ Cầu Ngư được tổ chức vào thời gian nào và nhằm mục đích gì?

Lễ Cầu Ngư được ngư dân vùng biển tổ chức sau Tết Nguyên đán hằng năm, khi bước vào mùa biển mới. Mục đích là tạ ơn thần Nam Hải đã phù trợ cho ngư dân trong những chuyến ra khơi, tưởng nhớ các bậc tiền nhân, cầu quốc thái dân an và mong được mùa trong vụ biển mới.

Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa đã được công nhận di sản chưa?

Tháng 6 năm 2014, Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 10 tháng 4 năm 2014, tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức lễ đón nhận Bằng công nhận này tại thành phố Nha Trang.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Nhân Dân - Giữ gìn, phát huy văn hóa biển Nam Trung Bộ (Kỳ 1)
  2. Báo Văn hóa - Tín ngưỡng thờ thần Nam Hải, nét văn hóa độc đáo của người dân ven biển
  3. Báo Điện tử Chính phủ - Lễ hội Cầu ngư Khánh Hòa là Di sản phi vật thể quốc gia

Nội dung này có giúp được bạn không?

#vănhóabiển#NamTrungBộ#tínngưỡngthờcáÔng#lễCầuNgư#làngbiển