Bát Tự trọn đời
- Loại xem
- Bát Tự
- Xem cho
- Đỗ Khánh MaiSinh ngày 14/03/1992 lúc 08:20 · NữÂm lịch: ngày 11 tháng 2 năm Nhâm ThânBốn trụ: năm Nhâm Thân, tháng Quý Mão, ngày Kỷ Sửu, giờ Mậu Thìn
- Ngày xem
- 15/10/2026
© 2026 Nhật Nguyệt. Bản luận soạn riêng, không sao chép để bán lại. nhatnguyet.org
Phần 1Ba điều nổi nhất ở lá số của chị
Các ô là điều lá số cho sẵn mà phần này dựa vào; mọi con số do máy tính từ ngày giờ sinh.
Chị mỗi lần nhận việc là nhận luôn phần việc chưa ai đặt tên, để rồi phần mình bị mờ đi. Lá số có Kiếp Tài là người cùng vai, cùng chia phần, đứng ở can giờ, tức chỗ gần chị nhất. Nên chị hỏi rõ ngay lúc nhận: việc này của ai, xong lúc nào.
Chị cầm tiền chắc tay nhưng lại ngại nói thẳng chuyện tiền với người nhà. Lá số có Chính Tài lộ ở can năm, tức phần tiền do công sức mà ra là phần rõ nhất. Nên chị nói rõ ngay từ đầu việc gì đã có lương, việc gì làm giúp, để khoản chung không lấn khoản riêng.
Chị dễ đứng ra lo việc lớn của nhà trước khi hỏi xem có ai cùng lo. Lá số vắng cả Chính Ấn lẫn Thiên Ấn, tức chỗ dựa sẵn có không hiện rõ trên mặt lá số. Nên chị chia việc lớn thành phần nhỏ, mỗi phần giao một người, rồi mới nhận phần của mình.
Phần 2Việc chị đang hỏi
Các ô là điều lá số cho sẵn mà phần này dựa vào; mọi con số do máy tính từ ngày giờ sinh.
Sách luận
凡人命有两位财,身弱不妨,元用正财,身旺发财,元用偏财,身旺脱财。
Phàm mệnh có hai vị Tài, thân nhược không ngại; vốn dùng Chính Tài, thân vượng thì phát tài; vốn dùng Thiên Tài, thân vượng thì thoát tài.[1]
无破无冲为美,得时得位弥昌。
Không bị phá không bị xung là đẹp, được thời được vị thì càng thịnh.[3]
支藏兮,每见他物,贵在取裁。
Chi tàng ẩn vật khác, quý ở chỗ biết chọn lựa.[3]
Diễn giải
Việc đổi hay ở lại thì lá số nghiêng về chỗ có khoản chắc trước đã; chị cầm tiền dự phòng trong tay rồi hãy quyết.
Chị kể đang làm kế toán ở một công ty nhỏ đã sáu năm, đang cân nhắc chuyển sang một công ty lớn hơn hoặc ra nhận làm sổ sách riêng. Chị đã lập gia đình, có một con nhỏ, nên lo thu nhập chưa ổn trong năm đầu đổi việc. Trên lá số, Kiếp Tài là thứ nổi nhất, có ở can giờ và tàng trong nhiều chi.
Sách Tam Mệnh Thông Hội dạy rằng mệnh có hai vị Tài thì thân nhược (can ngày sinh ít được các hành khác nâng đỡ) không ngại. Lá số chị có cả hai vị Tài, mà phần nâng đỡ thì mỏng hơn phần tiêu hao, nên hai nguồn tiền cùng lúc là chuyện phải tính kỹ. Đổi cùng lúc vừa chỗ làm vừa cách kiếm tiền là chỗ dễ hụt hơi nhất.
Lá số của chị thuộc dạng thân nhược, chỉ nhỉnh hơn phần tiêu hao một chút. Sách Mệnh Lý Ước Ngôn dạy rằng Tài không bị phá không bị xung là đẹp, được thời được vị thì càng thịnh. Trên lá số chị, Chính Tài lộ ở can năm và Thiên Tài (hành bị mình khắc, tượng tiền đến từ nhiều ngả) lộ ở can tháng, hai vị Tài đều hiện rõ.
Chặng đại vận (chặng mười năm của lá số) Kỷ Hợi mà chị đang đi có chi Hợi hại với chi năm Thân, nơi Chính Tài tàng. Nguồn tiền đều đặn của chị vẫn còn, nhưng có một chỗ cọ xát khiến nó không yên suốt chặng. Vì thế nếu ở lại, chị giữ được khoản đều nhưng phải chịu phần cọ xát ấy lâu hơn.
Sách Mệnh Lý Ước Ngôn dạy rằng Tài ẩn trong chi thì quý ở chỗ biết chọn lựa. Trên lá số chị, Thiên Tài tàng trong chi ngày Sửu và chi giờ Thìn, là chỗ gần với chuyện nhà mỗi ngày.
Khoản tiền kiếm thêm của chị gắn với nhịp sống của nhà, không tách riêng ra được. Ra làm sổ sách riêng thì phần chủ động cao hơn, nhưng tháng đầu chưa có khoản nào chắc. Nếu chọn hướng ấy, chị nên có sẵn một khoản đủ sống vài tháng trước khi rời chỗ cũ.
Chặng kế tiếp là Mậu Tuất, bắt đầu từ năm 2035, can của chặng là Kiếp Tài của nhật chủ. Sách Tam Mệnh Thông Hội dạy rằng vốn dùng Thiên Tài mà thân vượng (can ngày sinh được nhiều hành khác nâng đỡ) thì thoát tài, còn chị thì thân chưa vượng.
Chặng sau sẽ có thêm người cùng chia phần, nên chuyện tiền càng phải rõ ràng từ bây giờ. Việc chọn lúc nào đổi không gấp trong năm nay, nhưng cách giữ tiền thì nên sửa trước. Chị là người quyết, không phải lá số quyết.
Việc cần làm
- Đầu tháng, chị ghi ra giấy khoản chi tối thiểu của nhà trong một tháng và khoản mình kiếm chắc được mỗi tháng. Lá số cho thấy chị quen tính tiền theo tháng đều, nên nhìn hai con số ấy cạnh nhau sẽ biết mình còn bao nhiêu tháng dự phòng.
- Khi công ty lớn hẹn gặp trao đổi, chị hỏi rõ lương tháng đầu, thời gian thử việc và phần việc mình phải làm. Đúng nét phần trên vừa nói, chị dễ nhận phần nặng về mình, nên hỏi trước những điều ấy sẽ bớt phải ôm thêm mà không biết.
- Khi có người quen nhờ làm sổ sách riêng, chị nhận một việc nhỏ, làm trong hai tuần rồi mới tính tiếp. Như cách lá số đọc chuyện tiền của chị, khoản kiếm thêm thường đến từng việc nhỏ, nên thử một việc sẽ cho biết sức mình tới đâu.
Phần 3Con người chị
Mỗi trụ gồm một can ở trên và một chi ở dưới; can ngày là nhật chủ, đại diện cho chính chị. Dòng nhỏ là can tàng trong chi.
Thanh dài là hành có nhiều, thanh trống là hành vắng trên mặt lá số. Chi tháng được tính nặng gấp đôi.
Nhật chủ yếu: lá số cần được bồi thêm.
Với nhật can Kỷ sinh tháng Mão, lối điều hậu của Cùng Thông Bảo Giám nghiêng về hành Mộc và Thủy; lối phù ức chọn hành Hỏa. Hai lối ra hai hành khác nhau: bản luận đọc theo lối phù ức, thầy theo lối điều hậu sẽ luận lá số này khác đi.
Lối phù ức cân phần nâng đỡ với phần tiêu hao của nhật chủ để chọn hành cần nhất (dụng thần), hành giúp cho nó (hỉ thần), hành khắc nó (kỵ thần). Lối điều hậu chọn theo khí của tháng sinh. Hai lối có thể ra hai hành khác nhau.
Sách luận
己土卑湿,中正蓄藏。
Lời gốc: Kỷ Thổ thấp ẩm, trung chính, hay tích chứa.[4]
Diễn giải
Chị là người giữ việc tới cùng và chứa được nhiều chuyện; chỗ mệt nhất là tự ôm phần lo trước khi ai kịp ngỏ lời.
Cách chị xử sự thường khiến người quanh mình thấy chắc dạ: việc gì nhận rồi thì làm tới cùng. Lá số lấy can ngày Kỷ làm gốc, và sách Trích Thiên Tủy tả Kỷ Thổ là thấp ẩm, trung chính, hay tích chứa.
Với chị, điều ấy nghĩa là có sức giữ việc và giữ người, nhưng cũng dễ ôm vào mình nhiều hơn mức cần. Cái bền ấy là chỗ mạnh, không phải chỗ yếu.
Chị hay lặng lẽ nhận phần khó trước khi ai kịp ngỏ lời, rồi thấy mình phải lo nhiều hơn người khác. Trong lá số, thập thần (mười tên gọi quan hệ giữa các can khác với can ngày sinh) nổi nhất là Kiếp Tài, tàng ở chi năm và chi giờ, lại lộ ở can giờ.
Kiếp Tài là người cùng vai, chuyện chia phần với người ngang mình. Với chị, điều ấy hiện ra ở chỗ tiền và sức cứ bị chia cho người khác trước khi về tay mình. Đây là chỗ cần để ý nhất, vì nó không ồn ào mà cứ lặp lại.
Chị có thói quen đứng ra lo trọn, xong việc rồi mới thấy mình đã vượt quá phần của mình. Lá số theo nguyệt lệnh (chi của tháng sinh, chỗ nặng ký nhất của lá số) là Thất Sát (hành khắc mình, tượng áp lực và thử thách) cách, mà Thất Sát là trách nhiệm và khuôn phép đè lên mình.
Nhật chủ lại thân nhược, nghĩa là sức chịu không dư dả để gánh mãi. Cách đọc quen của môn hiểu như vậy là người nhận việc trước khi cân sức. Chị nên nói rõ phần mình làm và phần người khác làm ngay lúc nhận việc, đừng để tới lúc đã mệt mới nói.
Việc cần làm
- Đầu tuần, lúc xếp việc, chị ghi ra ba việc mình sẽ làm và một việc sẽ nhờ người khác làm cùng. Lá số cho thấy chị quen gánh trọn nên dễ ôm hết, mà phần bị chia đi nhiều hơn phần giữ lại.
- Khi có ai mời nhận thêm việc, chị hỏi lại thời hạn và phần mình phải làm rồi mới trả lời. Chị hay gật trước khi kịp cân, đúng nét phần trên vừa nói, mà sức chịu thì không dư dả để nhận liền một lúc nhiều việc.
- Ngay sau bữa tối, chị dành mười lăm phút gọi cho một người mình tin để hỏi một việc đang vướng. Như cách lá số đọc chuyện chỗ dựa của chị, chị hay tự xoay một mình, và hỏi sớm sẽ đỡ mệt hơn là cố một mình cho xong.
Phần 4Công việc và sự nghiệp
Thập thần là vai của từng can so với nhật chủ. Độ nổi xếp theo cách cân của Nhật Nguyệt: can lộ và bản khí của chi tháng nặng nhất.
Sách luận
己日戊辰时,财库专位。
Ngày Kỷ giờ Mậu Thìn, là chỗ chuyên của kho Tài.[1]
凡看命先看七杀,若有七杀,就要将此七杀处置了,方能用得别物。
Phàm xem mệnh trước hết xem Thất Sát; nếu có Thất Sát, phải đem Thất Sát ấy xử lý cho ổn, rồi mới dùng được các thứ khác.[2]
故用杀得宜,多主显耀,宦臣相类与其媚于奥,不若媚于灶之意也。
Cho nên dùng Sát mà thích đáng, phần nhiều chủ sự hiển hách; cũng như bề tôi thờ thần bếp còn hơn thờ thần ở góc tối vậy.[2]
Diễn giải
Công việc của chị vốn có phần khung rõ; giữ được phần trách nhiệm của mình thì đi xa hơn là ôm thêm.
Sáu năm một chỗ, chị đã quen nhịp cũ và biết rõ việc nào của mình. Chị thấy mình cáng đáng được, nhưng cũng thấy phần việc khó thường rơi về tay mình. Lá số của chị có cách cục Thất Sát, tức là khuôn phép và áp lực đứng ở thế rõ.
Thất Sát nằm ở nguyệt lệnh, là chỗ nặng nhất trong lá số, nên áp lực công việc vốn là phần quen thuộc. Sách Thần Phong Thông Khảo dạy phải xem Thất Sát trước, xử lý cho ổn rồi mới tính việc khác. Với chị, việc công nên giải từ gốc: nhận rõ phần trách nhiệm nào là của mình.
Chị làm việc có trách nhiệm, nhưng dễ nhận thêm phần của người khác mà không nói ra. Lá số có Kiếp Tài nổi nhất trong các thập thần, tức là người cùng vai, cùng chia phần, xuất hiện nhiều.
Kiếp Tài đứng ở can giờ và trong chi giờ, là chỗ gần với chị nhất. Điều này khiến chị dễ bị kéo vào việc chung, việc của nhóm, mà phần mình được chia thì mờ. Chị cần đặt ranh giới phần việc trước khi nhận, thay vì nhận rồi mới lo.
Lá số có Thương Quan (hành do mình sinh ra, tượng cách thể hiện và lời nói) tàng trong chi năm, là tài nghệ và cách thể hiện, nhưng chỉ ở dạng ẩn. Thực Thần (hành do mình sinh ra, tượng tay nghề và sự thong thả) cũng chỉ mờ, nên việc chị làm tốt thường ít được nhìn thấy đúng mức.
Cách đọc quen của môn cho thấy người có tài nghệ ẩn thì hợp với chỗ cần sự tỉ mỉ, ổn định, ít phải phô trương. Chị nên chọn môi trường đánh giá bằng kết quả công việc, chứ không phải bằng mức độ nổi bật.
Công việc của chị có phần khung rõ, nhưng cũng có phần dễ vấp vì ôm quá nhiều. Lá số vắng Chính Quan (hành khắc mình, tượng khuôn phép và trách nhiệm), nên chỗ dựa theo kiểu cấp trên chỉ đường không phải là thế mạnh.
Thất Sát lại tàng trong chi tháng và chi giờ, nên áp lực thường đến từ nhiều phía, không chỉ một nguồn. Sách Tam Mệnh Thông Hội nói ngày Kỷ giờ Mậu Thìn là chỗ chuyên của kho Tài. Chị có khả năng giữ tiền và làm việc liên quan tới sổ sách, con số, nhưng phải giữ phần trách nhiệm cho rõ.
Việc cần làm
- Trước buổi họp tới, chị viết ra giấy hai việc mình chắc chắn làm và một việc sẽ đề nghị chia cho người cùng nhóm. Lá số cho thấy chị hợp làm việc có khung rõ, nên nhìn thấy phần của mình trên giấy sẽ giúp chị không nhận quá phần mình.
- Khi có người nhờ thêm việc ngoài phần của mình, chị nói rõ mình đang làm gì và khi nào xong, rồi mới nhận thêm. Chị quen nhận việc theo phản xạ, nên một câu nói rõ phần việc giúp chị không nhận thêm phần không thuộc về mình.
- Cuối tháng, khi đối lại sổ sách, chị ghi ra ba việc đã làm tốt và một việc cần người khác cùng làm. Đây là chỗ lá số nghiêng về làm việc có khung rõ, nên nhìn lại phần mình đã làm sẽ giúp chị thấy rõ giá trị của mình hơn.
Phần 5Tiền bạc
Ô viền vàng là chỗ Chính Tài, Thiên Tài đứng (lộ trên can hay tàng trong chi); sách đọc tiền bạc qua các ô ấy.
Sách luận
然看日干强弱为要,日干强,则当扶财,日干弱,则当扶日。
Nhưng xem nhật chủ mạnh yếu là điều cốt yếu; nhật chủ mạnh thì nên giúp cho Tài, nhật chủ yếu thì nên giúp cho nhật chủ.[3]
赋云:财宜藏,藏则丰厚,露则浮荡是也。
Phú nói: Tài nên ẩn tàng, ẩn tàng thì dày đầy, lộ ra thì trôi nổi phóng túng, chính là ý ấy.[1]
得时为上,得位次之,有成又次之,兼得一二尤妙。
Đắc thời là hơn cả, đắc vị kém hơn, có thành lại kém hơn, được một hai điều càng hay.[1]
Diễn giải
Tiền của chị vào đều nhưng dễ chảy ra nhiều ngả, nên giữ bằng cách tách khoản và ghi rõ ngay từ lúc nhận.
Chị kiếm tiền bằng nghề của mình, tháng nào cũng có một khoản đều đặn vào nhà, không phải tiền bất chợt. Trên lá số, Chính Tài lộ ở can năm, lại tàng trong chi năm Thân, nên phần tiền do công sức mà ra là phần rõ nhất.
Sách Tam Mệnh Thông Hội dạy cách đọc: Tài nên ẩn tàng thì dày đầy, lộ ra thì trôi nổi. Với chị, nghĩa là khoản kiếm đều nên được giữ lại thành khoản dày dần, đừng để nó trôi qua tay. Đây là chỗ nên nhìn thẳng: tiền vào không ít, nhưng dễ đi nhanh nếu cứ để chung một chỗ.
Bên cạnh khoản đều ấy, lá số còn có Thiên Tài lộ ở can tháng và tàng trong chi ngày, chi giờ. Cách đọc quen của môn xem Thiên Tài là khoản tiền đến từ nhiều nguồn, không phải một đường cố định.
Với chị, điều này hiện ra ở chỗ: ngoài lương chính, chị có thể có thêm việc nhỏ, khoản phụ, hoặc tiền từ người khác trả cho phần mình làm giúp. Nhưng chính vì nhiều nguồn nên dễ lẫn, khó nhớ khoản nào đã tiêu. Nên tách riêng hai loại tiền ngay từ lúc nhận.
Lá số của chị thuộc dạng thân nhược, tức là phần nâng đỡ chưa đủ mạnh so với phần tiêu hao. Sách Mệnh Lý Ước Ngôn dạy: xem nhật chủ mạnh yếu là cốt yếu, nhật chủ yếu thì nên giúp cho nhật chủ.
Nghĩa là với chị, việc giữ sức và giữ tiền đi liền nhau, không nên dồn hết vào một chỗ rồi chờ. Khi sức đã mỏng mà còn nhận thêm việc, tiền kiếm được cũng dễ tiêu vào việc bù lại sức. Nên chọn việc vừa sức, làm đều, hơn là nhận nhiều rồi đuối.
Trên lá số, Kiếp Tài là thập thần nổi nhất, có ở can giờ và tàng trong nhiều chi. Kiếp Tài là phần tiền bị chia, bị mượn, hoặc tiêu cho người cùng vai. Với chị, điều này hiện ra ở chỗ tiền dễ bị rút ra cho việc chung, cho người thân, cho khoản không tên.
Sách Tam Mệnh Thông Hội dạy thứ bậc: được thời là hơn cả, được vị kém hơn, có thành lại kém hơn. Lá số của chị nghiêng về vế sau, nên tiền cần được giữ có ngăn, không phải để lẫn với khoản chi chung. Một khoản riêng, ghi rõ, là cách giữ.
Việc cần làm
- Hôm nhận lương tháng này, chị chuyển ngay một phần cố định sang một tài khoản riêng, không đụng tới trong tháng. Chị quen để tiền chung một chỗ nên dễ tiêu hết, tách ra thì khoản ấy mới giữ được, như cách lá số đọc chuyện tiền của chị.
- Khi có người nhà hỏi vay hoặc nhờ đóng góp, chị nói: "Mình để dành một khoản riêng rồi, tháng này chỉ còn ngần này." Chị hay mềm lòng trước lúc kịp tính, nên nói rõ ngay từ đầu thì khoản chung không bị rút vào việc riêng.
- Giờ nghỉ trưa thứ Tư, chị mở sổ ghi lại ba khoản đã tiêu trong tuần và khoản nào là tiền kiếm thêm. Lá số cho thấy chị có nhiều nguồn tiền nhỏ nên dễ lẫn, ghi ra thì biết khoản nào thật sự vào nhà.
Phần 6Tình cảm và hôn nhân
Ô viền vàng là chi ngày (chỗ sách đọc đời sống chung) và các ô mang sao phối ngẫu theo giới đã khai.
Sách luận
(三)夫:克我之官杀为夫。
Về chồng: Quan Sát khắc Nhật chủ là sao chồng.[19]
再看煞星得时得势否,当令而又透干,为煞旺,次则或当令而不透干,或不当令而干煞通支,支煞通干,又次则干有支无,支有干无。
Lại xem sao Sát được thời được thế hay không: đắc lệnh mà lại thấu can là Sát vượng; bậc kế là đắc lệnh mà không thấu can, hoặc không đắc lệnh mà can Sát thông với chi, chi Sát thông với can; bậc nữa là can có mà chi không, chi có mà can không.[3]
制之用食伤,食较有力,合之用刃劫,刃较有势,化之用印,偏正同功。
Chế Sát thì dùng Thực Thần và Thương Quan, Thực Thần có sức hơn; hợp Sát thì dùng Dương Nhận và Kiếp Tài, Dương Nhận có thế hơn; hoá Sát thì dùng Ấn, Thiên Ấn và Chính Ấn cùng công dụng.[3]
Diễn giải
Chị không thiếu tình cảm, chỉ cần nói ra việc cụ thể mình đang giữ trong đầu, để người bên cạnh biết chỗ mà đỡ.
Chuyện chung sống của chị dễ rơi vào cảnh một người nhớ hết, một người chờ được nhắc. Việc gì chị cũng quen cầm sẵn trong đầu, nên người bên cạnh thấy không cần để tâm nữa. Trên lá số, sao phối ngẫu của người nữ là Thất Sát, và sao này chỉ tàng trong chi tháng Mão cùng chi giờ Thìn, không lộ ra ngoài.
Sách Thiên Lý Mệnh Cảo viết: Quan Sát khắc Nhật chủ là sao chồng. Nghĩa là chuyện vợ chồng trong đời chị không phơi ra cho thiên hạ thấy, mà nằm kín trong nhà. Điều chị cần ở người bên cạnh là sự chủ động, chứ không phải sự im lặng cho qua.
Ở lá số của chị, sao Sát được mùa sinh vì chi tháng là Mão, nhưng không hiện lên can, nên thuộc bậc kế. Cách đọc quen của môn hiểu bậc này là sức Sát vừa phải, không quá gay gắt, cũng không hời hợt.
Với chị, người bên cạnh có thể không phải tuýp áp đặt, nhưng cũng không phải người đẩy mọi việc cho chị. Chỗ dễ lệch nhau là chị tự nhận phần lo rồi thấy tủi, còn người kia không biết mình đã bỏ sót.
Lá số của chị có Thực Thần và Thương Quan, nhưng Thực Thần chỉ ở mức mờ, còn Chính Ấn và Thiên Ấn thì vắng hẳn. Vì vậy cách nói chuyện để gần lại không nằm ở chỗ nhịn cho yên, mà nằm ở chỗ nói ra việc cụ thể.
Chị nên nói việc mình đã làm, việc mình cần người kia làm, thay vì nói cảm giác chung chung. Người bên cạnh nghe được việc cụ thể thì mới biết đường mà đỡ.
Cung phối ngẫu của chị là chi ngày Sửu, nơi chị và người bên cạnh sống chung mỗi ngày.
Tỷ Kiên (hành cùng loại với mình, tượng người ngang vai) trong cung này là chị hay đứng ngang hàng với người bên cạnh, dễ so đo phần ai nhiều ai ít. Chi ngày Sửu không hợp cũng không xung với các chi còn lại, nên chuyện chung sống không có sẵn cái đẩy ra xa.
Chặng Kỷ Hợi từ năm 2025 tới 2034 có mang sao phối ngẫu tới, nên đây là quãng thuận để chị tập nói rõ phần việc của mình trong nhà. Chị cần một người cùng bàn việc nhà như hai người lớn, chứ không phải người để chị tự xoay hết.
Việc cần làm
- Tối nay, trước khi đi ngủ, chị nói với người bên cạnh một việc cụ thể nhờ làm giúp trong tuần này, kèm thời điểm cần xong. Lá số cho thấy chị quen tự xoay hết nên người kia không biết chỗ nào cần đỡ.
- Lần tới hai người lệch ý nhau, chị nói một câu: "Mình muốn nghe ý trước đã." Chị hay đứng ngang hàng với người bên cạnh nên dễ so đo phần ai nhiều, đúng nét phần trên vừa nói.
- Trước bữa cơm tối nay, chị nói với người bên cạnh một câu: "Mình đang thấy một mình lo việc này, mình muốn cùng bàn lại." Như cách lá số đọc chuyện chung sống của chị, chị quen nhịn cho yên rồi tự làm, nên cần nói ra trước khi việc dồn lại.
Phần 7Gia đình: cha mẹ, anh em, con cái
Dòng nhãn dưới mỗi trụ là người thân sách đọc ở trụ ấy; ô viền vàng là Ấn tinh, Tỷ Kiếp và sao con cái.
Sách luận
(一)父:男女命皆以生我之印为父。
Cha: mệnh nam hay nữ đều lấy Ấn sinh ra nhật chủ làm cha.[19]
(五)兄弟:男女命,皆以同我之比劫为兄弟。
Anh chị em: mệnh nam hay nữ đều lấy Tỷ Kiếp cùng hành với nhật chủ làm anh chị em.[19]
即显露财印官煞食伤亦须以此意消息之。
Dù Tài, Ấn, Quan Sát, Thực Thương có lộ ra, cũng phải lấy ý ấy mà cân nhắc.[3]
Diễn giải
Với cha mẹ, chị thường là người chủ động hỏi thăm, chủ động lo liệu, ít khi để cha mẹ phải nhắc mình. Lá số của chị lại vắng cả Chính Ấn lẫn Thiên Ấn, không có chỗ dựa ấy hiện rõ trên mặt lá số.
Nghĩa là chuyện dựa vào cha mẹ có sẵn, chị hầu như tự lo từ sớm. Vì thế chị nên giữ nếp hỏi thăm đều đặn, nhưng đừng biến mình thành người gánh hết mọi việc lớn trong nhà.
Với anh chị em, chị dễ đứng ngang hàng, dễ nói thẳng, và cũng dễ nhận phần nặng về mình mà không kể công. Sách Thiên Lý Mệnh Cảo dạy anh chị em lấy Tỷ Kiếp cùng hành với nhật chủ làm gốc để đọc.
Lá số của chị lấy phần ngang vai làm gốc, và phần ấy hiện ra rõ nhất trong cả lá. Nghĩa là chuyện anh chị em với chị không nằm ở một sao riêng, mà ở thế chung của cả lá số. Chị nên nói rõ phần mình làm khi cùng việc với anh chị em, để công sức không lặng lẽ dồn về một phía.
Với con, hay với người nhỏ tuổi chị đang dìu dắt, chị là người đặt nếp, giữ giờ giấc, lo phần đều đặn trước. Lá số của chị có Thực Thần tàng trong chi ngày và Thương Quan tàng trong chi năm, tức phần con cái và người nối tiếp hiện ra ở dạng ẩn.
Trụ giờ (cặp can chi của giờ sinh) của chị là Mậu Thìn, can giờ là Kiếp Tài, và chi giờ với chi ngày không hợp cũng không xung. Điều ấy cho thấy chị nuôi dạy theo nếp chắc, không phải bằng lời nói nhiều. Chị nên giữ cách dạy có giờ có việc rõ, vì nếp ấy hợp với chị hơn là nhắc nhở luôn miệng.
Việc cần làm
- Chủ nhật tuần này, chị gọi cho cha mẹ hoặc người lớn trong nhà, hỏi một việc cụ thể về sinh hoạt của ông bà. Lá số cho thấy chị quen tự lo từ sớm, nên giữ liên lạc đều là cách bù lại phần mình từng thiếu.
- Tối nay, khi dạy con hoặc dìu người nhỏ tuổi học bài, chị đặt ra một giờ cố định và giữ đúng giờ ấy trong tuần. Chị hợp lối dạy có nếp rõ hơn là nhắc luôn miệng, đúng nét phần trên vừa nói về cách chị giữ nếp cho con.
- Khi có việc lớn trong nhà cần bàn, chị nói với người trong nhà một câu: "Mình đang lo việc này, mình muốn cùng bàn lại." Chị quen tự xoay một mình nên dễ ôm hết, nói ra để phần lo không lặng lẽ dồn về một phía.
Phần 8Chị đang ở đoạn nào
Mười năm từ năm xem
Mỗi ô là một chặng mười năm (đại vận). Ô đậm là chặng đang ở, ô viền là chặng kế. Đường dưới kê mười năm kể từ năm xem: can chi của năm, thập thần của can năm so với nhật chủ, và chặng năm ấy thuộc về.
- Tháng Giêng Hợp với việc nói ra ý mình đã ấp ủ lâu, và nên bớt nói vội khi chưa nghe hết.
- Tháng Hai Hợp với việc ngồi lại trau lại tay nghề cũ, làm chậm mà chắc từng công đoạn.
- Tháng Ba Hợp với việc sắp xếp lại sổ sách chi tiêu trong nhà, tính rõ từng khoản đều đặn mỗi tháng.
- Tháng Tư Hợp với việc mở thêm một nguồn thu nhỏ bên cạnh việc chính, làm thử rồi xem sức mình tới đâu.
- Tháng Năm Hợp với việc nhận phần trách nhiệm rõ ràng trong nhóm, giữ đúng lời đã hứa với người cùng làm.
- Tháng Sáu Hợp với việc đối diện chỗ khó đã né lâu, và nên bớt ôm thêm việc ngoài phần mình phụ trách.
- Tháng Bảy Hợp với việc học thêm một khoá ngắn hoặc tìm người chỉ dẫn, dựa vào chỗ dựa sẵn có.
- Tháng Tám Hợp với việc tự đọc tự tìm cách làm riêng, không theo lối cũ nếu thấy chưa hợp với mình.
- Tháng Chín Hợp với việc chia lại phần việc và phần tiền với người cùng làm, nói rõ trước khi bắt tay.
- Tháng Mười Hợp với việc bàn chuyện dài với người ngang vai, cùng nhau vạch hướng đi cho quãng tới.
- Tháng Mười Một Hợp với việc viết ra hoặc trình bày điều mình đã làm được, và nên bớt nói lời hứa quá xa.
- Tháng Chạp Hợp với việc sắp lại góc làm việc và nếp sinh hoạt, ăn chậm làm kỹ để giữ sức cho năm sau.
Mỗi tháng mở bằng một tiết khí. Căn cứ là can chi của tháng và thập thần của can tháng so với nhật chủ; câu bên cạnh nói tháng ấy hợp với việc gì.
Sách luận
休囚系乎运,尤系乎岁,战冲视孰降,和好视孰切。
Lời gốc: Sự suy hay thịnh hệ ở vận, lại càng hệ ở năm; chiến xung thì xem bên nào chịu khuất phục, hòa hảo thì xem bên nào thân thiết.[4]
日主譬如吾身,局中之神,譬之舟马引从之人,大运譬所到之地,故重地支,未尝无天干。
Lời chú gốc: Nhật chủ ví như thân ta, các thần trong mệnh cục ví như người chèo thuyền, kéo xe, dẫn đường theo hầu; đại vận ví như đất mà ta đi đến, cho nên trọng địa chi, nhưng không phải không xét thiên can.[4]
Diễn giải
Chị đang ở chặng còn chín năm, lấy việc học và củng cố chỗ dựa làm trọng; sang chặng sau thì tay nghề và nếp trong nhà thành cái dựa chính.
Chặng chị đang đi mở từ năm 2025 và kéo tới hết năm 2034, tính từ năm 2026 là còn chín năm. Can của chặng là Kỷ, đứng ngang vai với nhật chủ, nên chặng này đưa người cùng vai vào việc của chị.
Chi của chặng là Hợi, hành Thủy, trong đó có Chính Tài và Chính Quan, tức tiền và trách nhiệm nằm cùng một chỗ. Sách Trích Thiên Tủy dạy đại vận như đất mình đi tới, nên phải xem kỹ chi của chặng, không chỉ xem can.
Năm 2026 là năm Bính Ngọ, can năm là Chính Ấn của nhật chủ, thuộc hành Hỏa, mà Hỏa vốn còn thiếu trên mặt lá số. Chính Ấn là chỗ dựa và sự học, nên phần còn lại của năm nay hợp để dồn sức vào việc học thêm và củng cố chỗ dựa.
Sách Trích Thiên Tủy viết sự suy hay thịnh hệ ở vận, lại càng hệ ở năm, nên năm nay đáng để nhìn lại từng việc một. Năm nay không hợp và không xung với chặng, nên không phải năm đổi lớn, mà là năm dọn lại nếp.
Chi năm Mùi cùng bộ tam hợp Hợi Mão Mùi với chi tháng Mão, tức là kéo được thế chung vào việc, nên năm ấy hợp để bàn chuyện dài với người cùng vai. Nhưng chi Mùi xung và hình với chi ngày Sửu, nên chuyện gần gũi trong nhà cần nói rõ trước, đừng để lâu.
Năm 2028 là năm Mậu Thân, can năm là Kiếp Tài, cùng hành với can của chặng, nên năm ấy hợp để chia lại phần việc và phần tiền cho rõ. Chi Thân trùng với chi năm Thân và cùng bộ tam hợp Thân Tý Thìn với chi giờ Thìn, lại hại với chi Hợi của chặng, nên năm ấy nên bớt nhận thêm việc ngoài tay mình.
Chặng kế tiếp là Mậu Tuất, bắt đầu từ năm 2035, tức còn chín năm nữa. Can của chặng là Kiếp Tài, chi là Tuất hành Thổ, trong đó có Thiên Ấn và Thực Thần, nên chặng mới nghiêng về chỗ dựa bên trong và tay nghề hơn là ra ngoài gặp người.
Chi Tuất lục hợp (hai chi hợp với nhau) với chi tháng Mão, nhưng hình với chi ngày Sửu và xung với chi giờ Thìn, nên chuyện trong nhà và chuyện với người dưới sẽ có phần phải sắp lại. Từ bây giờ nên chuẩn bị bằng cách ghi lại nghề mình làm được và phần nào chỉ mình làm được, để sang chặng mới có cái dựa.
Việc cần làm
- Tối Chủ nhật tuần này, chị ngồi lại ghi ra giấy ba việc mình muốn học chắc trong hai năm tới và một người có thể chỉ cho mình. Chị đang ở chặng lấy chỗ dựa và sự học làm trọng, đúng nét phần trên vừa nói, nên ghi sớm sẽ biết bắt đầu từ đâu.
- Trước Tết, chị dành một buổi tối ghi ra ba việc nghề mình làm chắc tay nhất và một việc còn phải nhờ người khác. Chị quen làm sâu một việc, như cách lá số đọc chuyện chặng đang đi, nên ghi sẵn từ bây giờ sẽ sang chặng sau nhẹ hơn.
- Khi có ai rủ cùng đứng ra làm một việc chung trong mấy tháng tới, chị nói: "Mình muốn nghe ý trước đã, rồi mình nói phần mình lo được." Chị dễ gật rồi ôm phần nặng, như đoạn trên kể, nên hỏi rõ phần trước sẽ đỡ dồn về sau.
Phần 9Năm việc nên làm
Việc đứng trên là việc làm trước; mỗi việc ghi khi nào bắt đầu và phần đã luận nó.
Mở một cuốn sổ riêng, ghi mỗi khoản tiền vào nhà theo hai cột: tiền lương chính và tiền làm thêm.
- Vì sao
- Lá số cho thấy chị có nhiều nguồn tiền nhỏ nên dễ lẫn, ghi ra thì biết khoản nào thật sự vào nhà. (xem phần 5: Tiền bạc)
- Khi nào
- Bắt đầu tuần này và giữ đều tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Sổ tháng này có ghi rõ khoản nào là tiền kiếm thêm, khoản nào là tiền chính.
Nhận một việc sổ sách nhỏ cho người quen, làm gọn trong hai tuần, ghi lại số buổi tối phải bỏ ra.
- Vì sao
- Như cách lá số đọc chuyện tiền của chị, khoản kiếm thêm thường đến từng việc nhỏ, nên thử một việc sẽ cho biết sức mình tới đâu. (xem phần 2: Việc chị đang hỏi)
- Khi nào
- Thử trong tháng này, rồi tính tiếp từ đầu năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Đã đặt được một việc nhỏ làm thêm, và biết mình mất bao nhiêu buổi tối cho nó.
Mỗi quý, hẹn một buổi ngồi với người mình tin để hỏi cách làm một việc nghề còn yếu, rồi nhờ người cùng nhóm đỡ một phần việc ấy.
- Vì sao
- Lá số cho thấy chị đang ở chặng lấy chỗ dựa và sự học làm trọng, nên hỏi sớm sẽ biết bắt đầu từ đâu. (xem phần 8: Chị đang ở đoạn nào)
- Khi nào
- Làm từ tuần này, mỗi quý một lần tới năm 2028.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Đã có một buổi nói chuyện với người chỉ, và một việc nhờ người đã xong.
Mỗi tối Chủ nhật, cùng người bên cạnh điểm lại việc chung trong tuần và chia rõ phần mỗi người lo tuần sau.
- Vì sao
- Lá số cho thấy chị quen nhịn cho yên rồi tự làm, nên nói ra trước khi việc dồn lại. (xem phần 6: Tình cảm và hôn nhân)
- Khi nào
- Bắt đầu tuần này và giữ đều tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Cuối tuần hai người nhìn lại, việc đã bàn đã có người nhận phần của mình.
Đặt một giờ cố định mỗi tối cho việc học của con, và mỗi khi nhà có việc lớn thì gọi người trong nhà cùng ngồi lại chia phần.
- Vì sao
- Lá số cho thấy chị hợp lối dạy có nếp rõ, và quen tự xoay một mình nên dễ ôm hết việc nhà. (xem phần 7: Gia đình: cha mẹ, anh em, con cái)
- Khi nào
- Bắt đầu tuần này và giữ đều tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Giờ học của con đã giữ đúng trong tuần, và việc lớn của nhà đã có người nhận phần.
Bản luận này là một cách đọc theo sách, cộng với lời diễn giải của người trong nghề. Nó cho chị thấy khuynh hướng, không phải lời bảo đảm về chuyện sẽ tới. Việc chị làm mỗi ngày mới là thứ định hình đường đi. Chị là người quyết.
Cơ sở và nguồn
Lá số Bát Tự trong bản luận này lập theo lịch pháp: đó là phần tính được và ai cũng kiểm lại được. Bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ là can chi của thời điểm sinh: trụ tháng đổi theo tiết khí, tức theo hoàng kinh Mặt Trời, còn ngày âm đi theo điểm sóc. Phép tính ấy được đối chiếu với bảng điểm sóc của NASA, bảng tiết khí của Đài thiên văn Paris (IMCCE) và số liệu phân chí của Đài thiên văn Hải quân Mỹ, theo múi giờ UTC+7 cho mọi năm. Ai lập lại theo cùng quy ước cũng ra đúng lá số này. Riêng giờ Tý, Nhật Nguyệt đổi ngày từ 23 giờ, không tách Tý sớm, Tý muộn; có phái làm khác, nên bản luận ghi chú khi gặp giờ ấy.
Lời luận đi từ sách. Mộ chí Hàn Dũ viết cho Lý Hư Trung đời Đường là ghi chép đương thời về phép lấy can chi năm, tháng, ngày sinh để luận đời người. Tứ khố toàn thư tổng mục đời Thanh chép mười bốn bộ sách mệnh, sách tướng, trong đó có Lý Hư Trung Mệnh Thư, Lạc Lộc Tử, Tam Mệnh Thông Hội, và nói thẳng rằng nhiều sách mang tên người xưa là mượn danh. Tử Bình Chân Thuyên, Trích Thiên Tủy, Cùng Thông Bảo Giám còn bản in cũ trong các thư viện quốc gia. Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc có mục "Bát tự" và xếp nó vào phong tục. Chao Wei-pang, Richard J. Smith, Stéphanie Homola đã nghiên cứu truyền thống này như một đối tượng lịch sử và văn hoá.
Trong các nghiên cứu Nhật Nguyệt tìm được, chưa có nghiên cứu nào chứng minh lá số Bát Tự cho biết trước việc sẽ xảy ra. Phép thử trực tiếp rất ít: Jung và Yang (2015) so Tứ Trụ với thang đo tính cách ở 148 người lớn, không thấy tương quan đáng kể với tổng số âm dương, chỉ thấy tương quan yếu với ngũ hành. Các nghiên cứu về năm sinh (Wong và Yung 2005; Do và Phung 2010 ở Việt Nam; Mocan và Yu 2020) cho thấy thứ tạo ra khác biệt là niềm tin và sự chuẩn bị của cha mẹ, không phải bản thân năm sinh. Bản luận này vì thế là một cách đọc theo sách, có truyền thống lâu đời, để soi lại mình và sắp việc. Người đọc là người quyết.
Sách và bài tham chiếu
Sách cổ
- Tam Mệnh Thông Hội (三命通會), 萬民英 (Vạn Dân Anh); bản gốc không đề tên, chỉ đề "Dục Ngô sơn nhân", đời Minhcó trích trong bản này
- Thần Phong Thông Khảo (Mệnh Lý Chính Tông) (神峰通考), 张楠 (Trương Nam), hiệu Thần Phong, đời Minhcó trích trong bản này
- Mệnh Lý Ước Ngôn (命理約言), 陳素庵 (Trần Tố Am), đời Thanh, nguyên tác đời Thanh; bản tuyển in 1935có trích trong bản này
- Trích Thiên Tủy Xiển Vi (滴天髓闡微), 任鐵樵 (Nhậm Thiết Tiều), đời Thanh, đời Thanh; bản in 1947có trích trong bản này
- Ngũ Hành Đại Nghĩa (五行大義), 蕭吉 (Tiêu Cát), đời Tùy
- Mộ chí Điện trung Thị ngự sử Lý quân (Lý Hư Trung) (殿中侍御史李君墓誌銘), 韓愈 (Hàn Dũ), đời Đường; Lý Hư Trung mất năm Nguyên Hòa thứ tám
- Lý Hư Trung Mệnh Thư (李虛中命書), Bản cũ đề Quỷ Cốc Tử soạn, Lý Hư Trung (đời Đường) chú; Tứ khố ngờ là người đời Tống thêm vào, bản Tứ khố toàn thư, chép lại từ Vĩnh Lạc đại điển
- Lạc Lộc Tử Tam Mệnh Tiêu Tức Phú chú (珞琭子三命消息賦注), Bài phú không rõ tác giả; bản chú đề Từ Tử Bình (徐子平), đời Tống, đời Tống
- Ngọc Chiếu Định Chân Kinh (玉照定真經), Bản cũ đề Quách Phác (đời Tấn) soạn, Trương Ngung (張顒) chú; Tứ khố cho là mượn danh, bản Tứ khố toàn thư
- Tam Mệnh Chỉ Mê Phú (三命指迷賦), Bản cũ đề Nhạc Kha (岳珂, đời Tống) bổ chú; Tứ khố ngờ là mượn danh, bản Tứ khố toàn thư
- Uyên Hải Tử Bình (淵海子平), Dương Tông (楊淙), đời Minh, theo một bản lưu hành; bản in cũ ghi Từ Thăng (徐升), đời Tống, đời Tống tới đời Minh, tuỳ bản
- Khắc Kinh Đài Tăng Bổ Uyên Hải Tử Bình Đại Toàn (bản khắc năm 1600) (刻京台增補淵海子平大全), 李欽 (Lý Khâm) tăng bổ, 1600 (Minh, Vạn Lịch năm thứ 28)
- Trích Thiên Tủy (滴天髓), Bản khắc cuối Minh ghi Lưu Cơ (劉基); bản in 1926 đề Kinh Đồ (京圖) soạn, bản khắc sớm nhất đã mở: cuối đời Minh
- Tăng Bổ Tinh Bình Hội Hải Mệnh Học Toàn Thư (增補星平會海命學全書), Không đề tên người soạn, không ghi năm
- Khâm Định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (欽定協紀辨方書), Trang Thân vương Doãn Lộc (允祿) và các quan vâng sắc soạn, soạn từ năm Càn Long thứ tư, ba năm thì xong
- Tử Bình Chân Thuyên (子平真詮), 沈孝瞻 (Thẩm Hiếu Chiêm) biên tập, bản in thời Dân quốc, không ghi rõ năm
- Cùng Thông Bảo Giám (窮通寶鑑), Bản in 1926 ghi Dư Tinh Đường giám định, Dư Xuân Đài (余春台) biên tập, bản in đã mở: 1926 và 1937
- Tăng Đính Mệnh Lý Thám Nguyên (增訂命理探原), 袁樹珊 (Viên Thụ San), 1938 (tái bản)
Sách bình giảng hiện đại
- Thiên Lý Mệnh Cảo (千里命稿), 韦千里 (Vi Thiên Lý, 1911 tới 1988), 1935có trích trong bản này
- Bát Tự Đề Yếu (八字提要), 韦千里 (Vi Thiên Lý, 1911 tới 1988), 1946
- Tử Bình Chân Thuyên bình chú (子平真诠评注), 徐乐吾 (Từ Lạc Ngô, 1886 tới 1949) bình chú; nguyên văn 沈孝瞻 (Thẩm Hiếu Chiêm), 1936
- Cùng Thông Bảo Giám bình chú (穷通宝鉴评注), 徐乐吾 (Từ Lạc Ngô, 1886 tới 1949) bình chú, thời Dân quốc
- Tạo Hóa Nguyên Thược bình chú (造化元钥评注), 徐乐吾 (Từ Lạc Ngô, 1886 tới 1949) bình chú, thời Dân quốc
Thư mục và kho lưu trữ ghi nhận
- Tống sử, Nghệ văn chí (quyển 206) (宋史·藝文志(卷二百六))
- Minh sử, Nghệ văn chí (quyển 98) (明史·藝文志(卷九十八)), 張廷玉 (Trương Đình Ngọc) và các sử quan
- Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu, quyển 109: Tử bộ, Thuật số loại (mệnh thư, tướng thư) (四庫全書總目提要 卷一百九 子部十九 術數類二), Các quan biên tu Tứ khố toàn thư, đời Thanh, đời Càn Long
- Tứ khố tổng mục: lời đề yếu Lý Hư Trung Mệnh Thư (四庫全書總目提要 ·《李虛中命書》三卷(永樂大典本)), Các quan biên tu Tứ khố toàn thư, đời Càn Long
- Tứ khố tổng mục: lời đề yếu Từ thị Lạc Lộc Tử Phú chú (四庫全書總目提要 ·《徐氏珞琭子賦注》二卷(永樂大典本)), Các quan biên tu Tứ khố toàn thư, đời Càn Long
- Tứ khố tổng mục: lời đề yếu Tam Mệnh Thông Hội (四庫全書總目提要 ·《三命通會》十二卷(編修程晉芳家藏本)), Các quan biên tu Tứ khố toàn thư, đời Càn Long
- Tứ khố tổng mục: lời đề yếu Khâm Định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (四庫全書總目提要 ·《欽定協紀辨方書》三十六卷), Các quan biên tu Tứ khố toàn thư, đời Càn Long
- Thanh sử cảo, Nghệ văn chí (quyển 147) (清史稿·藝文志(卷一百四十七)), 吳士鑑, 章鈺, 朱師轍
- Kho Hán tịch Kanseki Repository: Tam Mệnh Thông Hội (bản Văn Uyên Các Tứ khố toàn thư) (Kanseki Repository(漢籍リポジトリ)KR3g0042 三命通會), Kanseki Repository
- Thư viện Quốc gia (Đài Bắc), sách hiếm: Trích Thiên Tủy, bản khắc cuối đời Minh của Trường Canh Quán (國家圖書館(臺北)善本:《新鍥誠意伯秘授玄徹通旨滴天髓》明末長庚館刊本), Bản ghi thư viện ghi tác giả Lưu Cơ (劉基), cuối đời Minh
- Thư viện Quốc gia Trung Quốc, sách thời Dân quốc: Trích Thiên Tủy và Cùng Thông Bảo Giám (Văn Minh thư cục, 1926) (中国国家图书馆 民国图书:《滴天髓·窮通寶鑑》(文明書局,1926)), 秦慎安 (Tần Thận An) hiệu khám, 1926
- Thư viện Đại học Chiết Giang (CADAL): bản chụp Tam Mệnh Thông Hội trong Khâm Định Tứ khố toàn thư (浙江大学图书馆(CADAL)影印《欽定四庫全書》本《三命通會》), (明)萬民英
Bách khoa toàn thư
- "Bát tự", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, bản thứ ba trực tuyến (八字(中国大百科全书 第三版 网络版)), 王媛媛 soạn; 毛海莹 sửa
- "Can chi", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (干支(中国大百科全书 第三版 网络版)), 陈美东
- "Ngũ hành", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (五行(中国大百科全书 第三版 网络版)), 郑开
- "Phương thuật", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (方术(中国大百科全书 第三版 网络版)), 王煦华
- "Quan niệm về vận mệnh", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (命运观(中国大百科全书 第三版 网络版)), 翟学伟
- "Nông lịch", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (农历(中国大百科全书 第三版 网络版)), 成灼; 傅燕宁
- "Hai mươi bốn tiết khí", Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (二十四节气(中国大百科全书 第三版 网络版)), 刘金沂
- "Bát tự", Trùng biên Quốc ngữ từ điển tu đính bản, Bộ Giáo dục (Đài Loan) (八字(教育部《重編國語辭典修訂本》)), 教育部 (Bộ Giáo dục, Đài Loan)
- "Tử Bình", Trùng biên Quốc ngữ từ điển tu đính bản, Bộ Giáo dục (Đài Loan) (子平(教育部《重編國語辭典修訂本》)), 教育部 (Bộ Giáo dục, Đài Loan)
- "Lịch Trung Hoa", Bách khoa toàn thư Britannica (Chinese calendar (Encyclopaedia Britannica)), Chao Lin
- "Mười hai con giáp", Bách khoa toàn thư Britannica (Chinese zodiac (Encyclopaedia Britannica)), Frannie Comstock
- "Ngũ hành", Bách khoa toàn thư Britannica (Wuxing (Encyclopaedia Britannica)), Ban biên tập Britannica; Matt Stefon sửa gần nhất
- "Âm dương", Bách khoa toàn thư Britannica (Yinyang (Encyclopaedia Britannica)), Ban biên tập Britannica
- "Chiêm tinh học", Bách khoa toàn thư Britannica (Astrology (Encyclopaedia Britannica)), David E. Pingree
- "Siêu hình học trong triết học Trung Hoa", Bách khoa triết học Stanford (Metaphysics in Chinese Philosophy (Stanford Encyclopedia of Philosophy)), Franklin Perkins, đăng 2015, sửa lớn 2023
- "Ngũ hành", Bách khoa triết học Internet (IEP) (Wuxing (Wu-hsing) (Internet Encyclopedia of Philosophy)), Ronnie Littlejohn, Belmont University
- "Âm dương", Bách khoa triết học Internet (IEP) (Yinyang (Yin-yang) (Internet Encyclopedia of Philosophy)), Robin R. Wang, Loyola Marymount University
Nghiên cứu học thuật
- Khoa tính mệnh của người Trung Hoa (The Chinese Science of Fate-Calculation), Chao Wei-pang, 1946
- Thầy bói và triết gia: chiêm bốc trong xã hội Trung Hoa truyền thống (Fortune-tellers and Philosophers: Divination in Traditional Chinese Society), Richard J. Smith (Rice University), 1991
- Chiêm bốc và tiên đoán ở Trung Hoa cổ và Hy Lạp cổ (Divination and Prediction in Early China and Ancient Greece), Lisa Raphals (University of California, Riverside), 2013
- Sách số mệnh và văn hoá bình dân ở Trung Hoa cổ: các bản Nhật thư thời Chiến Quốc, Tần, Hán (Books of Fate and Popular Culture in Early China: The Daybook Manuscripts of the Warring States, Qin, and Han), Donald Harper và Marc Kalinowski chủ biên, 2017
- Đối mặt với tương lai: lý thuyết và thực hành chiêm bốc ở Đông Á (Coping with the Future: Theories and Practices of Divination in East Asia), Michael Lackner chủ biên, 2018 (bản ghi của đại học ghi 2017)
- Trung tâm nghiên cứu quốc tế "Số mệnh, tự do và tiên đoán", Đại học Erlangen-Nürnberg (International Consortium for Research in the Humanities: "Fate, Freedom and Prognostication. Strategies for Coping with the Future in East Asia and Europe" (IKGF)), Friedrich-Alexander-Universität Erlangen-Nürnberg, hoạt động 14 năm, nay đã kết thúc
- Sổ tay chiêm bốc và tiên đoán ở Trung Hoa, phần một (Handbook of Divination and Prognostication in China. Part One: Introduction to the Field), Michael Lackner và Zhao Lu chủ biên, 2022
- Nghề tính mệnh: hành nghề xem số ở Đài Bắc, Bắc Kinh và Khai Phong (The Art of Fate Calculation: Practicing Divination in Taipei, Beijing, and Kaifeng), Stéphanie Homola (CNRS, Inalco), 2023
- Lục Trí Cực, "Trung Quốc mệnh lý học sử luận" (qua bài phỏng vấn trên The Paper) (陆致极《中国命理学史论》(访谈:八字命理,中国古人伟大的假说?)), 陆致极 (Lục Trí Cực); người phỏng vấn 徐明徽, sách 2008; bài phỏng vấn 27/02/2015
Nghiên cứu kiểm chứng
- Ngộ nhận tự xác nhận: một thí nghiệm trong lớp học về tính cả tin (The fallacy of personal validation: a classroom demonstration of gullibility), Bertram R. Forer, 1949
- Mức sinh của người Triều Tiên ở Nhật chịu ảnh hưởng một niềm tin dân gian năm 1966 (Fertility of the Korean population in Japan influenced by a folk superstition in 1966), Kim Y.S., 1979
- Ảnh hưởng của con giáp tới mức sinh ở Hồng Kông (The influence of the Chinese zodiac on fertility in Hong Kong SAR), Paul S.F. Yip, Joseph Lee, Y.B. Cheung, 2002
- Người tuổi Rồng có số tốt hơn không? (Do Dragons Have Better Fate?), Ka-Fu Wong, Linda Yung, 2005
- Ưa con trai và mức sinh ở Hàn Quốc trong năm Ngọ (Sex preferences and fertility in South Korea during the year of the Horse), Jungmin Lee, Myungho Paik, 2006
- Đời của lứa sinh năm Bính Ngọ: số liệu nói gì (Lives of the Firehorse Cohort: What the Statistics Show), Hideo Akabayashi, 2008
- Tác động của việc ưa con trai tới việc tránh sinh: bằng chứng từ năm Bính Ngọ ở Nhật (Causal effects of sex preference on sex-blind and sex-selective child avoidance and substitution across birth years: Evidence from the Japanese year of the fire horse), Chris Rohlfs, Alexander Reed, Hiroyuki Yamada, 2010
- Tầm quan trọng của việc được mong đợi (The Importance of Being Wanted), Quy-Toan Do, Tung D. Phung, 2010
- Vận may có ưu ái tuổi Rồng? (Does fortune favor dragons?), Noel D. Johnson, John V.C. Nye, 2011
- Quan hệ giữa thuyết Tứ Trụ phương Đông và các thang đo tính cách phương Tây (Relations between Eastern Four Pillars Theory and Western Measures of Personality Traits), Seung Ah Jung, Chang Soon Yang, 2015
- Tỉ số trai gái khi sinh ở Nhật tăng trong năm Bính Ngọ 1966 (The Japanese male:female birth ratio rose in the 1966 Fire-Horse year due to female birth year misrepresentation), Victor Grech, 2016
- Niềm tin có tạo ra lời tiên tri tự ứng nghiệm? Kết quả học tập của trẻ tuổi Rồng ở Trung Quốc (Can Superstition Create a Self-Fulfilling Prophecy? School Outcomes of Dragon Children in China), Naci Mocan, Han Yu, 2017 (bản thảo NBER); 2020 (bản tạp chí)
- Lời nguyền Bính Ngọ: niềm tin đã tác động tới mức sinh ở Nhật thế nào (The curse of the Fire-Horse: How superstition impacted fertility rates in Japan), Emi Suzuki, Haruna Kashiwase, 2019
- Niềm tin, mức sinh và tác động lan sang sắc tộc khác: bằng chứng từ bán đảo Malaysia (Superstition, Fertility, and Interethnic Spillovers: Evidence from Peninsular Malaysia), Emily A. Beam, Slesh A. Shrestha, 2020
Sách tiếng Việt
- Dự đoán theo Tứ trụ, Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên; Nguyễn Văn Mậu dịch, 2008 (tái bản lần thứ tư)
- Tam mệnh thông hội (bản dịch tiếng Việt) (Tam mệnh thông hội), Vạn Dân Anh (đời Minh); Chu Tước Nhi dịch, 2011
Phần 10Phụ lục
Lá số của anh chị
- Giới tính: Nữ. Năm xem: 2026, tuổi 34.
- Bốn trụ: năm Nhâm Thân (壬申), tháng Quý Mão (癸卯), ngày Kỷ Sửu (己丑), giờ Mậu Thìn (戊辰).
- Nhật chủ (can ngày, đại diện cho chính người xem): Kỷ (己), hành Thổ, âm.
- Tháng sinh: chi Mão (卯), hành Mộc, tháng mở bằng tiết Kinh Trập. Chi tháng gọi là nguyệt lệnh.
- Ngũ hành của tám chữ, từ nhiều tới ít (chi tháng tính nặng hơn): Thổ, Thủy, Mộc, Kim. Vắng trên mặt lá số (có thể còn ẩn trong can tàng): Hỏa.
- Nhật chủ yếu: lá số cần được bồi thêm. Theo lối phù ức: dụng thần hành Hỏa, hỉ thần hành Mộc, kỵ thần hành Thủy. Theo lối điều hậu (Cùng Thông Bảo Giám): can Giáp (甲), Quý (癸), hành Mộc và Thủy.
- Thập thần của can lộ (so với nhật chủ): can năm Nhâm là Chính Tài; can tháng Quý là Thiên Tài; can giờ Mậu là Kiếp Tài.
- Can tàng trong chi: chi năm Thân tàng Canh (Thương Quan, bản khí), Nhâm (Chính Tài, trung khí), Mậu (Kiếp Tài, dư khí); chi tháng Mão tàng Ất (Thất Sát, bản khí); chi ngày Sửu tàng Kỷ (Tỷ Kiên, bản khí), Tân (Thực Thần, trung khí), Quý (Thiên Tài, dư khí); chi giờ Thìn tàng Mậu (Kiếp Tài, bản khí), Quý (Thiên Tài, trung khí), Ất (Thất Sát, dư khí).
- Thập thần theo độ nổi (can lộ và bản khí của chi tháng nặng nhất): nổi nhất là Kiếp Tài; rõ: Thiên Tài, Thất Sát; vừa: Chính Tài, Tỷ Kiên, Thương Quan; mờ: Thực Thần; vắng hẳn: Chính Quan, Thiên Ấn, Chính Ấn.
- Cách cục theo nguyệt lệnh: Thất Sát (七杀). Các sách có thể xếp khác khi nhiều can cùng thấu.
- Lộc của nhật chủ ở chi Ngọ, không có trong lá số.
- Nhật chủ là can âm: các phái không thống nhất về Dương Nhận của can âm (có phái lấy chi Mùi, có phái lấy chi Tỵ, có phái cho là không có).
- Thần sát có mặt: Thiên Ất Quý Nhân (天乙贵人) ở trụ năm, trụ tháng; Hoa Cái (华盖) ở trụ ngày, trụ giờ; Vong Thần (亡神) ở trụ năm.
- Đại vận đi nghịch, mỗi chặng 10 năm, vào vận đầu năm 2 tuổi.
- Chặng đại vận đang ở trong năm xem: Kỷ Hợi (己亥), từ năm 2025 tới năm 2034, can của chặng là Tỷ Kiên của nhật chủ.
- Chặng kế tiếp: Mậu Tuất (戊戌), từ năm 2035 tới năm 2044, can của chặng là Kiếp Tài của nhật chủ.
Chữ của nghề trong bản luận này
- Kiếp Tài: hành cùng loại nhưng khác âm dương với mình, tượng người cùng chia phần.
- Chính Tài: hành bị mình khắc, tượng tiền do công sức đều đặn làm ra.
- Chính Ấn: hành sinh ra mình, tượng sự nâng đỡ và việc học.
- Thiên Ấn: hành sinh ra mình, tượng lối nghĩ và lối học riêng.
- Thân nhược: can ngày sinh ít được các hành khác nâng đỡ.
- Thiên Tài: hành bị mình khắc, tượng tiền đến từ nhiều ngả.
- Đại vận: chặng mười năm của lá số.
- Nhật chủ: can của ngày sinh, đại diện cho chính mình.
- Thân vượng: can ngày sinh được nhiều hành khác nâng đỡ.
- Thập thần: mười tên gọi quan hệ giữa các can khác với can ngày sinh.
- Nguyệt lệnh: chi của tháng sinh, chỗ nặng ký nhất của lá số.
- Thất Sát: hành khắc mình, tượng áp lực và thử thách.
- Cách cục: khuôn chính của lá số, lấy theo tháng sinh.
- Thương Quan: hành do mình sinh ra, tượng cách thể hiện và lời nói.
- Thực Thần: hành do mình sinh ra, tượng tay nghề và sự thong thả.
- Chính Quan: hành khắc mình, tượng khuôn phép và trách nhiệm.
- Tỷ Kiên: hành cùng loại với mình, tượng người ngang vai.
- Trụ giờ: cặp can chi của giờ sinh.
- Tam hợp: ba chi hợp lại thành một hành.
- Lục hợp: hai chi hợp với nhau.
Chỗ các phái đọc khác nhau
- Lá số lập theo giờ Việt Nam (UTC+7) và đổi ngày từ 23 giờ. Có phái tách giờ Tý sớm với Tý muộn, có phái dùng giờ mặt trời thật theo nơi sinh; người sinh sát mốc đổi giờ có thể ra trụ giờ hay trụ ngày khác.
- Dụng thần có nhiều lối chọn: phù ức (cân mạnh yếu của nhật chủ), điều hậu (theo khí của tháng sinh), thông quan. Với nhật can Kỷ sinh tháng Mão, lối điều hậu của Cùng Thông Bảo Giám nghiêng về hành Mộc và Thủy; lối phù ức chọn hành Hỏa. Hai lối ra hai hành khác nhau: bản luận đọc theo lối phù ức, thầy theo lối điều hậu sẽ luận lá số này khác đi.
- Cách cục ở bản này lấy theo can tàng của chi tháng thấu lên thiên can. Khi nhiều can cùng thấu, hay khi nhật chủ là can âm sinh tháng Dương Nhận, các sách xếp khác nhau.
- Thần sát là phần các sách lệch nhau nhiều nhất: cùng một sao, có sách tra theo chi năm, có sách tra theo chi ngày.
- Tiểu vận (trụ của từng năm tuổi) có hai lối. Bản luận đếm từ trụ giờ, mỗi năm một trụ, đi thuận hay nghịch như đại vận; lối cổ hơn cho mọi người nam khởi Bính Dần, mọi người nữ khởi Nhâm Thân. Không rõ giờ sinh thì không có tiểu vận.
- Thập thần nổi bật trong bản luận xếp theo cách cân của Nhật Nguyệt (can lộ nặng hơn can tàng, chi tháng nặng nhất), không phải quy tắc của một cuốn sách.
- Bảng mười hai tháng của năm xem tính theo tiết khí như trụ tháng của lá số: tháng Dần mở từ Lập Xuân, không từ mùng một âm lịch, nên đầu tháng của hai cách có thể lệch nhau vài tuần.
