Thần số học trọn đời
- Loại xem
- Thần số học
- Xem cho
- Đỗ Khánh MaiSinh ngày 14/03/1992 lúc 08:20 · NữÂm lịch: ngày 11 tháng 2 năm Nhâm ThânSố chủ đạo 11, Số ngày sinh 5, Số thái độ 8Số sứ mệnh 3, Số linh hồn 8, Số nhân cách 4, Số trưởng thành 5
- Ngày xem
- 15/10/2026
© 2026 Nhật Nguyệt. Bản luận soạn riêng, không sao chép để bán lại. nhatnguyet.org
Phần 1Ba điều nổi nhất ở lá số của chị
Các ô là điều lá số cho sẵn mà phần này dựa vào; mọi con số do máy tính từ ngày giờ sinh.
Chị làm việc bằng linh cảm rồi tự hỏi không biết mình có nghĩ quá không. Số chủ đạo 11, tức là con số của trực giác mạnh, cho thấy chị thường đoán đúng hướng của một việc trước khi có bằng chứng. Trong công việc, chỗ này hiện ra ở những lần chị biết một khoản sổ có vấn đề trước khi bấm máy, nhưng lại ngồi im vì sợ mình nhầm.
Chị khó ngồi yên một chỗ quá lâu với một việc đã thành nếp. Số trưởng thành 5, tức là số cho biết hướng phát triển lúc trưởng thành, nghiêng về ưa thay đổi và ngại bị gò. Điều ấy hiện ra ở chỗ chị làm kế toán sáu năm nhưng trong lòng vẫn thấy bứt rứt, muốn đổi cách làm hoặc đổi chỗ.
Chị đã quen với việc có người đối chiếu sổ sách nên chuyện tiền trong nhà dễ trôi mà không ai gọi tên. Trong biểu đồ ngày sinh, tức là bảng chín ô ghi các con số có trong ngày sinh, số 8 vắng hẳn, cho thấy phần quản lý vật chất phải chủ động dựng lấy chứ không tự có. Với chị, điều này hiện ra ở chỗ thu nhập vào bao nhiêu thì chi tiêu cũng trôi theo, ít khi để lại khoản dư rõ ràng.
Phần 2Việc chị đang hỏi
Các ô là điều lá số cho sẵn mà phần này dựa vào; mọi con số do máy tính từ ngày giờ sinh.
Sách luận
The mind begins to reach out for unseen things in this vibration.
Trong rung động này, tâm trí bắt đầu vươn tới những điều chưa thấy.[1]
Diễn giải
Không hướng nào an toàn sẵn, nên chị chọn theo sức chịu của nhà mình trong năm đầu.
Chị kể đang làm kế toán ở một công ty nhỏ đã sáu năm và đang cân nhắc chuyển sang công ty lớn hơn hoặc ra nhận làm sổ sách riêng. Số sứ mệnh (con số tính từ mọi chữ cái của họ tên, nói điều mình hay hướng tới) 3 trong lá số nghiêng về việc nói ra, giải thích cho người khác hiểu, nên công việc chỉ ngồi im một chỗ sẽ không dùng hết phần ấy.
Sách Đạt thành công nhờ sức mạnh của rung động dạy cách đọc số 5 là tâm trí bắt đầu vươn tới những điều chưa thấy. Số ngày sinh (con số của ngày sinh, nói một năng khiếu riêng) 5 và số trưởng thành 5 của chị đều thuộc con số ấy, nên đứng trước một hướng mới thì trong chị có sẵn phần muốn thử.
Nghĩa là chuyện đổi việc không trái với lá số, mà là điều lá số đã nghiêng sẵn. Điều chị cần cân là mức thu nhập trong năm đầu, chứ không phải có nên đổi hay không.
Nếu ra nhận làm sổ sách riêng, cái được là chị tự dựng khuôn cho công việc của mình, không phải theo nếp của ai.
Số chủ đạo 11 cho chị trực giác tốt. Trong biểu đồ ngày sinh, số 4 về nề nếp chỉ có một lần, nên chị làm được việc có khung nhưng không hợp bị khung của người khác ép.
Cái giá là những tháng đầu không có người đối chiếu, không có lương cố định, và mọi việc giấy tờ, khách hàng, thu chi đều dồn về một mình chị. Điều chị cần tự cân là nhà mình chịu được bao lâu nếu thu nhập chưa đều, và chị có ai để hỏi khi vướng hay không.
Với một con nhỏ trong nhà, phần thu nhập chưa ổn trong năm đầu là điều chị đã tự thấy trước, và đó là chỗ đáng cân nhất. Số thử thách (con số nói bài học đi kèm mỗi giai đoạn) của chặng đang đi là 2, đọc là chỗ khó nằm ở chuyện phải chọn một bên thay vì đứng giữa hai bên.
Lá số của chị không nói bên nào hơn, chỉ nói chị hợp với việc tự dựng khuôn và cần một khoản đủ để nhà không chao trong năm đầu. Chị là người quyết, và quyết xong thì nên dồn sức vào một hướng thay vì vừa làm vừa ngó lại.
Việc cần làm
- Trước ngày quyết, chị ghi ra giấy khoản chi tối thiểu mỗi tháng của nhà. Chị thường muốn nhìn thấy con số trước mới yên, nên có con số ấy thì bước tiếp sẽ bớt mơ hồ.
- Khi có người quen rủ chị nhận một phần sổ sách nhỏ ngoài giờ, chị nhận thử và ghi lại số giờ thật mình bỏ ra trong hai tuần. Như cách lá số đọc chuyện chị làm việc theo nếp, làm thử sẽ cho biết nhịp làm riêng có giữ được sức chị không.
Phần 3Con người chị
Ba số đầu tính từ ngày sinh; các số còn lại tính từ họ tên. Số 11, 22, 33 được giữ nguyên, không rút gọn.
Mũi tên có đủ ba số (nét liền): 1-2-3
Mỗi ô ghi số lần một chữ số xuất hiện trong ngày sinh. Ba ô thẳng hàng cùng đầy hay cùng trống tạo thành một mũi tên.
Sách luận
Blessed with the gift of balanced self-expression, people with two 1’s are the most fortunate people.
Được phú cho món quà tự biểu đạt một cách quân bình, người có hai số 1 là những người may mắn nhất.[4]
The person with two 1’s is often able to see both sides of a situation or argument, and it is not uncommon for them to take the other side midway through a discussion if it should suddenly appear more valid.
Người có hai số 1 thường có thể nhìn thấy cả hai mặt của một tình huống hay một cuộc tranh luận, và không hiếm khi họ đổi sang phía bên kia giữa câu chuyện nếu phía ấy bỗng nhiên có vẻ đúng hơn.[4]
There is sometimes a nervous restlessness in their earlier years, resulting from the inclination to spend too much time in their mind without knowing quite how to translate this mental energy into the physical.
Đôi khi có một sự bồn chồn lo lắng trong những năm đầu đời, bắt nguồn từ khuynh hướng dành quá nhiều thời gian trong đầu óc mà không biết chuyển năng lượng tinh thần ấy thành hành động thể chất như thế nào.[4]
Diễn giải
Chị nhìn được nhiều phía nên dễ do dự, nhưng khi chịu bắt tay làm một bước cụ thể thì mọi thứ nhẹ đi.
Chị thường thấy cả hai phía của một việc, kể cả khi chẳng ai yêu cầu. Đang bàn chuyện gì, chị có thể đổi ý giữa chừng nếu phía bên kia bỗng nghe hợp lý hơn. Đó là nét của người có hai số 1 trong biểu đồ ngày sinh.
Sách Thần số học toàn tập gọi đây là món quà tự biểu đạt quân bình, thứ giúp nhìn sự việc và con người rộng hơn người thường. Với chị, cái lợi là ít khi áp đặt, cái mệt là dễ bị kéo qua kéo lại. Biết mình có thói ấy rồi thì chuyện đổi ý không còn là lỗi, chỉ là chọn thời điểm để chốt.
Chị có một mũi tên mạnh trên biểu đồ ngày sinh, gọi là mũi tên Người Hoạch Định, gồm ba số 1, 2, 3 nằm liền nhau. Đó là cách đọc riêng của một nhánh thần số học, không phải cách đọc của mọi sách.
Sách Thần số học toàn tập nói về người có mũi tên này rằng đôi khi họ bồn chồn lo lắng trong những năm đầu đời. Lý do là họ ở trong đầu quá lâu mà chưa biết chuyển ý nghĩ thành việc làm. Với chị, đây đúng là chỗ nên để tâm: nghĩ kỹ là thế mạnh, nhưng phải có lúc dừng nghĩ để bắt tay làm.
Trong biểu đồ ngày sinh, chị có hai số 1, hai số 9, và mỗi số 2, 3, 4 có một lần.
Vắng hẳn bốn số 5, 6, 7, 8. Cách đọc của nhánh này cho rằng số vắng không phải là thiếu, mà là phần mình phải chủ động dựng lấy.
Chỗ vắng số 6 cho thấy chị phải tự rèn phần sáng tạo của mình, và có số 3 bên cạnh thì việc ấy nhẹ hơn nhiều. Chỗ vắng số 7 nhắc chị phải bỏ công thực tế mới hiểu được chuyện cho đi và mất mát, không tự nhiên mà có.
Đây là hai lối gọi khác nhau cho cùng một con số, không phải hai chuyện khác nhau. Cách đọc quen của môn hiểu số 11 là người nhạy, trực giác mạnh, hay đứng ra làm việc cho tập thể hơn là cho riêng mình.
Nhưng nó cũng đặt lên vai chị một chỗ dễ mệt: nghe được quá nhiều thứ mà không phải lúc nào cũng nói ra được. Số ngày sinh là 5, nên chị cần được đổi mới, được học cái mới, chứ ngồi yên một chỗ lâu là trong lòng bứt rứt. Cộng lại, chị hợp với những việc vừa có khung rõ ràng vừa có chỗ để xê dịch.
Việc cần làm
- Đầu tuần, lúc xếp việc, chị chọn ra một việc đang nghĩ nhiều nhất rồi viết xuống đúng một bước nhỏ làm được trong ngày. Lá số cho thấy chị hay kẹt ở chỗ chọn vì nhìn được cả hai phía, nên một bước nhỏ sẽ cắt vòng lặp ấy.
- Khi có ai mời nhận thêm việc, chị xin một ngày để trả lời rồi ghi ra hai điều được và một điều mất. Chị nhạy với chuyện chung nên dễ gật trước khi kịp cân, đúng nét phần trên vừa nói, và một ngày chờ sẽ giúp chị trả lời đúng ý mình.
- Ngay sau bữa tối, chị dành mười phút đi bộ hoặc làm một việc tay chân trong nhà. Như cách lá số đọc chuyện chị ở trong đầu hơi lâu so với nhu cầu của thân thể, vận động một chút sẽ làm đầu óc nhẹ đi rõ rệt.
Phần 4Công việc và sự nghiệp
Các ô là điều lá số cho sẵn mà phần này dựa vào; mọi con số do máy tính từ ngày giờ sinh.
Sách luận
When vibrating in its true key, it is a beautiful, happy number.
Khi rung động đúng tông của nó, đây là một con số đẹp đẽ và hạnh phúc.[2]
As beauty abounds so freely in this world, so we find the 3 a joyous and happy nature.
Như cái đẹp nhan nhản khắp thế gian này, số 3 cũng vậy, mang bản tính vui tươi và hạnh phúc.[2]
Number 3 is that of expression, and the mission of a life whose destiny number is a 3 is to bring joy at all times to all people through that radiant power within its life.
Số 3 là số của sự diễn đạt, và sứ mệnh của một đời người có số mệnh là 3 là mang niềm vui đến mọi lúc cho mọi người bằng sức mạnh rạng rỡ bên trong đời sống ấy.[3]
Diễn giải
Công việc hợp với chị là nơi có khung rõ ràng nhưng vẫn có đất để chị nói ra và làm khác đi.
Công việc của chị chạy tốt khi mọi thứ có khung: sổ sách, quy trình, mốc thời gian rõ ràng. Chị làm kế toán đã sáu năm, và nghề ấy hợp với chị ở chỗ bắt mọi thứ phải khớp lại.
Lá số của chị có số nhân cách 4, tức là phần người ngoài nhìn thấy nơi chị nghiêng về nề nếp, đáng tin, đúng hẹn. Đó là vốn lớn trong nghề này, vì người ta giao sổ cho ai trông có vẻ cẩn thận. Nhưng cũng chính vì vậy mà chị dễ bị kéo vào vai người giữ mọi thứ đâu vào đấy cho cả nhóm.
Bên cạnh cái khung ấy, chị còn có phần muốn nói ra, muốn giải thích cho người khác hiểu. Số sứ mệnh của chị là 3. Sách Tên, ngày và số đọc số 3 là số của sự diễn đạt, sứ mệnh là mang niềm vui đến cho người khác bằng sức mạnh rạng rỡ của mình.
Sách Triết học về các con số, âm và màu của chúng thì đọc số 3 khi rung động đúng tông là một con số đẹp đẽ và hạnh phúc. Nghĩa là chị chỉ thấy công việc dễ chịu khi được nói, được trình bày, được giải thích cái mình đang làm. Nếu chỉ ngồi im một chỗ với con số, chị sẽ mòn dần.
Chị cũng là người làm việc bằng trực giác khá tốt, nhiều khi linh cảm trước được chuyện sẽ xảy ra. Số chủ đạo của chị là 11, và cách đọc quen của môn xem số 11 là số của trực giác mạnh, chỉ hơi khó tin vào chính mình.
Điều ấy hiện ra ở chỗ chị thường đoán đúng hướng của một việc nhưng lại tự hỏi không biết mình có nghĩ quá không. Trong công việc, chỗ này đáng để ý: tin vào nhận định đầu tiên của mình rồi kiểm lại bằng giấy tờ, thay vì ngồi nghi ngờ nó cả buổi.
Còn một chỗ nữa đáng nói: chị khó ngồi yên một chỗ quá lâu với một việc đã thành nếp. Số trưởng thành của chị là 5, và số 5 là số ưa thay đổi, ngại bị gò.
Với chị, điều này nghĩa là công việc chỉ có khung mà không có chỗ để nói, để đổi cách làm, thì sớm muộn chị cũng thấy chán. Chọn việc nên nhìn cả hai vế: đủ khung để yên tâm, đủ đất để nói và làm khác đi.
Việc cần làm
- Trước buổi họp tới, chị viết ra giấy ba việc đúng phần mình phụ trách và một việc không phải phần mình. Lá số cho thấy chị có số nhân cách 4 nên người ngoài thấy chị đáng tin và hay giao thêm việc.
- Giờ nghỉ trưa thứ Ba, chị dành mười phút ghi lại một việc mình đã đoán đúng mà không dám nói ra. Lá số cho thấy chị có trực giác tốt nhưng hay tự hỏi mình có nghĩ quá không.
- Chiều thứ Sáu, trước khi tan làm, chị ghi vào sổ một câu về việc tuần này mình đã làm khác cách cũ. Lá số cho thấy chị chóng chán khi mọi thứ lặp lại.
Phần 5Tiền bạc
Mũi tên có đủ ba số (nét liền): 1-2-3
Ô viền vàng là số phần này đọc; con số trong ô là số lần chữ số ấy có trong ngày sinh.
Sách luận
Birth Charts without an 8 indicate that those people have to deliberately apply themselves to achieve that desirable level of wisdom and independence that makes life more fulfilling and rewarding.
Biểu đồ ngày sinh không có số 8 cho thấy những người ấy phải chủ động nỗ lực hết mình để đạt được mức khôn ngoan và độc lập đáng mong muốn, thứ khiến cuộc sống trọn vẹn và đáng giá hơn.[4]
Preferring to work with concrete rather than theoretical concepts, these people are often sceptical when it comes to obscure theories.
Thích làm việc với những gì cụ thể hơn là khái niệm lý thuyết, những người này thường hoài nghi trước những lý thuyết mơ hồ.[4]
Diễn giải
Tiền trong nhà chỉ vào khuôn khi chị chủ động dựng khuôn, và chị phải là người mở sổ trước.
Chị đã quen với cảnh sổ sách có người đối chiếu nên trong nhà, chuyện tiền có thể trôi mà không ai gọi tên. Trong biểu đồ ngày sinh của chị, số 4 là nề nếp chỉ có một lần, còn số 8 quản lý vật chất vắng hẳn.
Sách Thần số học toàn tập đọc biểu đồ thiếu số 8 là người phải chủ động nỗ lực mới đạt được mức khôn ngoan và độc lập đáng mong muốn. Với chị, chuyện tiền không tự vào khuôn, mà phải do chị dựng khuôn. Một lần mỗi tuần, chị tự ngồi đối chiếu thu chi của nhà mình như đối chiếu sổ của công ty.
Khi có việc cần quyết về tiền, chị thường muốn nhìn thấy con số cụ thể trước rồi mới nghe lời giải thích. Sách Thần số học toàn tập đọc người có một số 4 là thích làm việc với điều cụ thể hơn là khái niệm lý thuyết, và thường hoài nghi trước những lý thuyết mơ hồ.
Chị chỉ yên tâm khi mọi khoản được ghi ra thành dòng, thành mục. Nếu ai đó bàn chuyện tiền bằng lời hứa chung chung, chị nên xin con số cụ thể rồi hãy trả lời. Đây là thế mạnh của chị, không phải sự khó tính.
Số ngày sinh 5 cho chị sự linh hoạt, xoay được khi tình huống đổi, nhưng cũng dễ làm theo hứng. Cách đọc phổ biến của môn xem ngày sinh 5 là người thích cái mới, dễ bị cuốn theo cơ hội đến bất ngờ.
Với người đã có gia đình và con nhỏ, một khoản chi bất chợt dễ được biện minh là hợp lý. Chị nên để một khoản riêng cho việc phát sinh, và chỉ tiêu trong phần đã định trước. Cách này giữ được sự linh hoạt mà không phá nề nếp đã dựng.
Số sứ mệnh 3 của chị nghiêng về nói ra, giải thích cho người khác hiểu, nên chuyện tiền trong nhà cũng cần được nói thành lời. Số sứ mệnh 3 là người có khả năng diễn đạt và thích được chia sẻ.
Chị nên kể cho người nhà nghe con số cụ thể thay vì tự giữ. Khi hai người cùng nhìn một tờ giấy, chuyện tiền bớt thành chuyện riêng của chị. Mỗi tháng, chị dành một buổi tối để cả nhà cùng nhìn lại các khoản đã chi.
Việc cần làm
- Hôm nhận lương tháng này, chị ghi ra giấy ba khoản cố định của nhà rồi để riêng một khoản cho việc phát sinh. Đây là chỗ lá số nghiêng về việc chị phải tự dựng khuôn cho tiền, nên khoản riêng ấy giúp chị xoay mà không phá kế hoạch.
- Mỗi tối Chủ nhật, chị mở sổ chi của nhà và đối lại từng khoản trong tuần, kể cả khoản nhỏ. Chị quen nhìn con số cụ thể mới yên tâm, đúng nét phần trên vừa nói, nên nhìn thấy dòng chi mới kiểm soát được.
- Lần tới người nhà bàn một khoản chi, chị nói: "Mình muốn nghe con số cụ thể trước đã." Như cách lá số đọc chuyện tiền của chị, chị quen làm việc với điều cụ thể nên câu ấy giúp chị không gật theo lời hứa chung chung.
Phần 6Tình cảm và hôn nhân
Mũi tên có đủ ba số (nét liền): 1-2-3
Ô viền vàng là số phần này đọc; con số trong ô là số lần chữ số ấy có trong ngày sinh.
Sách luận
One important lesson life teaches us is the need to participate in society without necessarily being bound by it.
Một bài học quan trọng mà cuộc sống dạy ta là sự cần thiết phải tham gia vào xã hội mà không nhất thiết bị nó trói buộc.[4]
With so much emphasis on artificial values in social, artistic and commercial expression today, individuals must be “tuned in” to successfully compete.
Khi ngày nay người ta quá nhấn mạnh vào những giá trị giả tạo trong cách thể hiện ngoài xã hội, trong nghệ thuật và trong thương mại, mỗi người phải “bắt đúng sóng” thì mới cạnh tranh thành công.[4]
Without the balance, sensitive natures can be easily hurt, often resulting in unwise reactions.
Không có sự cân bằng ấy, những bản tính nhạy cảm có thể dễ bị tổn thương, thường dẫn đến những phản ứng thiếu khôn ngoan.[4]
Diễn giải
Chị cần nói ra điều mình cần trước khi lòng nặng, thay vì chờ người bên cạnh tự đoán.
Chị thường là người đứng ra lo liệu trong nhà mà ít khi nói ra mình cần gì. Số linh hồn (con số tính từ các nguyên âm của họ tên, nói điều mình mong ở bên trong) 8 trong lá số cho thấy điều chị cần trong lòng là được công nhận và có vị trí rõ ràng trong mối quan hệ.
Sách Thần số học toàn tập dạy cách đọc số linh hồn 8 rằng phải tham gia vào đời sống chung mà không để nó trói mình. Với chị, điều đó có nghĩa là cần có mặt trong gia đình mà không đánh mất tiếng nói riêng. Một mối quan hệ tốt với chị là khi chị vẫn được là chính mình trong đó.
Trong biểu đồ ngày sinh, chị chỉ có một số 2 và vắng hẳn số 6. Sách Thần số học toàn tập dạy cách đọc số 2 rằng người nhạy cảm mà thiếu cân bằng thì dễ bị tổn thương và phản ứng thiếu khôn ngoan.
Với chị, điều này hiện ra ở chỗ chị nghe được thái độ của người bên cạnh rất nhanh, đôi khi nhanh hơn họ muốn nói. Khi thấy lệch, chị dễ im lại rồi tự xử lý trong đầu thay vì hỏi thẳng. Cách gần lại là nói ra điều mình vừa nghe thấy, trước khi nó thành chuyện lớn.
Chị hợp với một người nói chuyện thẳng và có nếp sinh hoạt rõ ràng. Số nhân cách 4 trong lá số cho thấy người ngoài nhìn vào chị là người chỉn chu, đáng tin, và chị cũng cần người bên cạnh đáng tin như vậy.
Với chị, chuyện vợ chồng không nằm ở quà cáp hay lời khen, mà nằm ở chuyện hai người có cùng nhìn về một hướng hay không. Chỗ dễ lệch nhất là khi chị thấy người kia không còn quan tâm tới những gì mình coi trọng.
Chỗ cần nói chuyện rõ nhất là những lúc chị thấy mình đang gánh phần lớn trong nhà mà không ai nhắc tới. Số chủ đạo 11 của chị cho thấy chị cảm nhận được nhu cầu của người khác rất sớm, nên dễ nhận phần lo về mình trước khi được nhờ.
Nhưng số 6 vắng trong biểu đồ ngày sinh cho thấy việc chăm lo cho người khác không phải là phản xạ tự nhiên của chị, mà là điều chị phải tập. Với chị, cần nói ra mình cần gì thay vì chờ người kia đoán. Một câu nói thẳng sẽ dễ chịu hơn nhiều so với việc chị tự làm rồi thấy lòng nặng.
Việc cần làm
- Tối nay, khi cả nhà đã yên, chị ngồi lại năm phút và viết ra ba điều mình đang cần ở người bên cạnh mà chưa từng nói. Chị quen nhận phần lo về mình trước, nên viết ra trước sẽ giúp chị nói được thành lời.
- Lần tới khi chị thấy lòng nặng vì một câu nói của người bên cạnh, chị hỏi thẳng: "Mình vừa nghe thấy vậy, có đúng ý không?" Chị nghe được thái độ của người khác rất nhanh, nên hỏi lại sẽ tránh cho chị phản ứng dựa trên điều mình tự suy diễn.
- Khi người bên cạnh nhờ chị một việc trong nhà, chị nói rõ phần mình làm và phần mình cần được giúp. Chị dễ thấy công sức mình không được nhìn tới, nên nói rõ ngay từ đầu sẽ nhẹ lòng hơn.
Phần 7Gia đình: cha mẹ, anh em, con cái
Các ô là điều lá số cho sẵn mà phần này dựa vào; mọi con số do máy tính từ ngày giờ sinh.
Diễn giải
Trong nhà, chị là người dựng nếp, và bớt gánh giúp thì mối nào cũng nhẹ hơn.
Trong nhà, chị thường là người dựng cái nếp cho mọi việc: giờ giấc, sổ sách, chuyện lớn nhỏ đều có khuôn. Số nhân cách 4 là con số của sự chắc chắn và ngăn nắp, nên người nhà nhìn vào chị là thấy chỗ dựa.
Cách đọc phổ biến của môn hiểu con số này là người ta muốn được tin, được giao việc, và muốn mọi thứ có trật tự. Với chị, chỗ ấy thành ra chị nhận phần lo mà ít khi nói ra là mình cần gì. Cái nếp chị dựng cho nhà là thật, và nó bắt đầu từ chính chị chứ không ai khác.
Với cha mẹ, chị thường đứng ở vị trí người đã lớn, tự lo được, nên ít khi ngồi xuống kể chuyện mình đang khó ở đâu. Số linh hồn 8 cho thấy bên trong chị muốn một chỗ đứng vững và muốn tự quyết chuyện của mình.
Con số này là người ta ngại nhận giúp đỡ, sợ mang ơn, nên tự xoay cho xong. Với cha mẹ thì điều ấy thành ra chị hay giấu lúc mình đang mệt. Nhưng cha mẹ thường nhận ra con mình đang nặng lòng trước khi con nói ra.
Với anh chị em, chị là người đứng ra giữ việc chung: chuyện giỗ chạp, chuyện nhà, chuyện ai lo phần nào. Số sứ mệnh 3 nghiêng về nói ra và nói cho người khác hiểu, nên chị hay là người đứng giữa nói lại cho các bên.
Con số này là người ta có nhu cầu nói cho rõ chứ không muốn để mọi thứ mờ mờ. Điều ấy giúp nhà chị ít hiểu lầm, nhưng cũng dễ khiến chị thành người gánh việc đứng ra phân xử. Chị nên để người khác tự nói phần của họ.
Với con, hay với người nhỏ tuổi chị đang dìu dắt, chị là người dựng giờ giấc, dạy nếp, và giữ lời mình nói. Số chủ đạo 11 cho chị trực giác tốt, nhiều khi hiểu chuyện trước khi người nhỏ nói ra.
Con số này là người ta nhạy với cảm xúc của người xung quanh, kể cả người chưa nói được thành lời. Với con thì điều ấy thành ra chị hiểu con khá sớm, nhưng cũng dễ đoán thay con. Chị nên để con tự nói phần của con trước khi mình kết luận.
Việc cần làm
- Sáng Chủ nhật tuần này, chị ngồi với người nhà mười phút, mỗi người nói một việc mình muốn nhận trong tuần. Lá số cho thấy chị hay đứng ra giữ việc chung, nên để người khác nói phần họ trước sẽ nhẹ cho chị.
- Khi con hay người nhỏ trong nhà kể một chuyện, chị đợi nghe hết rồi mới nói điều mình nghĩ. Đúng nét phần trên vừa nói, chị hiểu cảm xúc của người nhỏ khá sớm, nên nghe hết sẽ tránh đoán thay điều họ chưa nói.
- Lần tới cha mẹ hỏi thăm, chị kể thật một việc mình đang khó thay vì nói mọi thứ đều ổn. Như cách lá số đọc chuyện chị quen tự xoay một mình, mở ra một việc nhỏ sẽ giúp cha mẹ bớt phải đoán.
Phần 8Chị đang ở đoạn nào
Mười năm từ năm xem
Mỗi giai đoạn có một số đỉnh cao và một số thử thách đi kèm. Ô đậm là giai đoạn đang ở. Đường dưới kê mười năm kể từ năm xem: tuổi, số năm cá nhân của từng năm, và giai đoạn năm ấy thuộc về.
Diễn giải
Chị còn một năm để dọn lại mọi thứ trước khi bước sang chặng mới, và đó là việc nên làm ngay.
Chặng đang đi
Chặng này còn đúng một năm, và nó hợp để chị làm cho tay nghề vững và nói ra điều mình làm được.
Chặng đang đi của chị tính tới hết năm 2026, còn đúng một năm.
Đây là giai đoạn đỉnh cao (bốn giai đoạn lớn của đời người, mỗi giai đoạn một con số) mang số 8, đọc là chặng nghiêng về tiền bạc, vị trí và chuyện quản lý sổ sách. Với chị, chặng này hợp để dùng vào việc làm cho tay nghề kế toán vững thêm và để người ta thấy mình giữ việc chắc.
Đi kèm chặng này là số thử thách 2, tức chỗ khó nằm ở việc nói thẳng ý mình và tin vào giá trị của mình. Nên chặng này chị dùng để luyện đúng hai việc: làm việc có sổ sách rõ ràng, và nói ra điều mình làm được.
Năm 2026
Ba tháng cuối năm nay là lúc dọn lại sổ sách, giấy tờ, và chưa nên mở thêm cam kết dài hạn mới.
Năm 2026 là năm cá nhân (con số của từng năm, tính từ ngày tháng sinh và năm đang xét) số 9, đọc là năm khép lại một vòng chín năm.
Cách đọc phổ biến của môn xem năm số 9 là năm rà lại và dọn bớt những gì đã tới lúc xong. Ba tháng còn lại của năm nay, chị nên dồn sức vào việc sắp xếp lại giấy tờ, sổ sách, và ghi ra những việc còn treo.
Việc nên giữ chừng là chuyện mở thêm một cam kết dài hạn mới, vì năm số 9 là năm kết thúc chứ không phải năm khởi đầu. Chặng đỉnh cao số 8 kéo tới hết năm nay, nên đây cũng là lúc chị nhìn lại xem mình đã dùng chặng ấy vào việc gì.
- Tháng 1 Hợp với việc mở một hướng làm ăn mới, đặt việc đầu tiên vào tuần đầu tháng.
- Tháng 2 Hợp với việc làm cùng người khác, chia phần việc rõ ràng cho từng người trong nhóm.
- Tháng 3 Hợp với việc gọi điện, gặp gỡ và nói ra ý tưởng đang ấp ủ với người tin cậy.
- Tháng 4 Hợp với việc củng cố nền cũ, sắp xếp lại sổ sách và giấy tờ còn để lộn xộn.
- Tháng 5 Hợp với việc đổi cách làm quen thuộc, thử một lối đi khác trong công việc thường ngày.
- Tháng 6 Hợp với việc chăm lo cho gia đình, dành thời gian cho người nhà và việc trong nhà.
- Tháng 7 Hợp với việc học thêm một thứ mới và nghỉ ngơi, đọc lại những gì đã làm trong nửa năm.
- Tháng 8 Hợp với việc nhìn lại thành quả đã làm, nhận phần trách nhiệm lớn hơn trong công việc.
- Tháng 9 Hợp với việc kết thúc những việc còn treo và buông bớt phần không còn cần thiết.
- Tháng 10 Hợp với việc bắt đầu một việc đã ấp ủ lâu, chọn đúng một việc và làm tới cùng.
- Tháng 11 Hợp với việc bàn bạc và làm cùng người khác, kiên nhẫn nghe trước khi quyết.
- Tháng 12 Hợp với việc nói ra điều mình nghĩ, gặp gỡ người quen và chia sẻ công việc năm tới.
Tháng tính theo dương lịch. Số tháng cá nhân cộng từ số năm cá nhân và số của tháng; câu bên cạnh nói tháng ấy hợp với việc gì.
Hai năm kế: 2027 và 2028
Hai năm tới đi theo hai nhịp khác nhau: một năm mở ra việc mới, một năm chậm lại để đi cùng người khác.
Năm 2027 là năm cá nhân số 1, đọc là năm mở đầu một vòng chín năm mới và hợp để bắt đầu một việc đã ấp ủ. Năm 2027, chị nên tập trung vào việc dựng lại cách làm việc của mình cho gọn và chủ động hơn. Năm 2028 là năm cá nhân số 2, đọc là năm chậm lại, hợp với việc hợp tác và đi cùng người khác hơn là tự đẩy mọi thứ.
Năm 2028, chị nên tập trung vào việc giữ quan hệ với người cùng làm và chăm phần chi tiết. Nhìn ba năm liền, chị thấy một năm khép lại, một năm mở ra, rồi một năm đi cùng người khác. Điều ấy gợi ý chị đừng dồn hết việc lớn vào một năm, mà chia sức ra.
Chặng kế tiếp
Chặng mới bắt đầu từ năm 2027 và đòi chị tự đứng ra nhận phần của mình, nên chuẩn bị từ bây giờ.
Chặng kế tiếp bắt đầu từ năm 2027, tức còn một năm nữa kể từ năm 2026.
Chặng mới cũng mang số 8, nhưng theo căn cứ của chặng thì đây là chặng thứ hai. Nó khác chặng này ở chỗ đòi hỏi chị đã có nghề trong tay và tự đứng mũi chịu sào.
Từ bây giờ tới hết năm 2026, chị nên chuẩn bị hai thứ: một bộ sổ sách của riêng mình cho gọn gàng, và một câu nói rõ mình làm được gì. Sang năm 2027, chặng mới mở ra cùng lúc với năm cá nhân số 1, nên đó là lúc thích hợp để bắt đầu một việc đã nghĩ lâu.
Việc cần làm
- Trước Tết, chị ngồi lại một buổi và ghi ra danh sách những việc còn treo trong sổ sách của mình. Việc này giúp chị thấy rõ mình đang ở đâu, và đây là chỗ lá số nghiêng về việc dọn dẹp trước khi bước sang chặng mới.
- Tuần này, chị chọn một việc mình đã làm tốt trong tháng và nói ra với người quản lý trực tiếp. Lá số cho thấy chị vốn hay để công sức mình chìm, nên nói ra một lần sẽ giúp chị bớt cảm giác mình làm mà không ai thấy.
- Khi có ai hỏi chị đang tính gì cho thời gian tới, chị trả lời bằng một câu ngắn nói rõ hướng mình muốn đi. Đúng nét phần trên vừa nói, chị quen tự xoay một mình, nên nói ra một hướng sẽ giúp chị đỡ phải tự cân nhắc mãi trong đầu.
Phần 9Năm việc nên làm
Việc đứng trên là việc làm trước; mỗi việc ghi khi nào bắt đầu và phần đã luận nó.
Tháng này, chị mở một trang giấy, ghi ba việc mình đang cân nhắc nhất và với mỗi việc viết đúng một bước nhỏ làm được trong ngày.
- Vì sao
- Lá số cho thấy chị hay kẹt ở chỗ chọn vì nhìn được cả hai phía, nên một bước nhỏ sẽ cắt vòng lặp ấy. (xem phần 3: Con người chị)
- Khi nào
- Tuần này, giữ tới trước Tết.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Chị đã làm xong ít nhất một bước nhỏ ghi trên trang giấy ấy.
Từ tháng này, mỗi tối Chủ nhật chị dành mười lăm phút đối chiếu sổ chi của nhà, ghi lại một khoản muốn siết lại trong tuần tới.
- Vì sao
- Lá số nghiêng về việc chị phải tự dựng khuôn cho tiền, nên nhìn thấy dòng chi mới kiểm soát được. (xem phần 5: Tiền bạc)
- Khi nào
- Từ tháng này, giữ tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Chị đã giữ được ít nhất ba tối Chủ nhật liền đối chiếu sổ chi.
Từ tháng này, mỗi tối trước khi ngủ chị viết ra một điều mình đang cần ở người bên cạnh, để dành nói vào dịp cả hai ngồi lại.
- Vì sao
- Chị quen nhận phần lo về mình trước, nên viết ra trước sẽ giúp chị nói được thành lời. (xem phần 6: Tình cảm và hôn nhân)
- Khi nào
- Từ tháng này, giữ tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Chị đã nói ra được ít nhất một điều trong số đã viết.
Từ tháng này, mỗi sáng Chủ nhật chị để người nhà nói trước một việc họ muốn nhận trong tuần, rồi mình mới nhận phần của mình.
- Vì sao
- Lá số cho thấy chị hay đứng ra giữ việc chung, nên để người khác nói phần họ trước sẽ nhẹ cho chị. (xem phần 7: Gia đình: cha mẹ, anh em, con cái)
- Khi nào
- Từ tháng này, giữ tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Chị đã giữ được ít nhất hai sáng Chủ nhật để người khác nói trước.
Trước Tết, chị dành một buổi ghi ra danh sách việc còn treo trong sổ sách, rồi chọn một việc nói ra với người quản lý trực tiếp.
- Vì sao
- Đây là chỗ lá số nghiêng về việc dọn dẹp trước khi bước sang chặng mới, nên nói ra một việc sẽ giúp chị bớt cảm giác mình làm mà không ai thấy. (xem phần 8: Chị đang ở đoạn nào)
- Khi nào
- Từ nay tới trước Tết, rồi giữ tới hết năm 2027.
- Dấu hiệu đang đi đúng
- Chị đã ghi xong danh sách và nói ra được một việc với người quản lý.
Bản luận này là một cách đọc theo sách, cộng với lời diễn giải của người trong nghề. Nó cho chị thấy khuynh hướng, không phải lời bảo đảm về chuyện sẽ tới. Việc chị làm mỗi ngày mới là thứ định hình đường đi. Chị là người quyết.
Cơ sở và nguồn
Phần tính toán của bản luận này chỉ là phép cộng. Ngày, tháng, năm sinh được cộng lại rồi rút về một chữ số; mỗi chữ cái trong họ tên được đổi thành một số từ 1 tới 9 rồi cũng cộng lại. Ai cầm bút tính lại cũng ra đúng những con số ấy, không cần tin ai. Có một điều phải nói rõ: bảng đổi chữ thành số của hệ này dựng cho 26 chữ cái tiếng Anh, như bảng chín cột trong sách của bà L. Dow Balliett (bản quyền 1905). Tiếng Việt có dấu thanh và có những chữ như ă, â, đ, ê, ô, ơ, ư, nên cách Nhật Nguyệt đổi tên tiếng Việt sang số là quy ước của tiện ích, không phải điều sách gốc quy định.
Hệ tính theo tên và ngày sinh hình thành ở Mỹ đầu thế kỷ 20: Balliett ở Atlantic City (How to Attain Success Through the Strength of Vibration, bản quyền 1905; The Philosophy of Numbers, 1908), Luo Clement (1908), Cheasley (1916), Campbell (1931), Jordan (1936); biểu đồ ngày sinh và các mũi tên có trong dòng sách Úc của Templeton, còn sách của Phillips (1980) là nền của cuốn sách Việt phổ biến nhất. Các sách ấy nói mình dạy điều "Pythagoras dạy", nhưng đó là vay tên. Điều thật sự cổ là quan niệm của người Pythagoras rằng số là nguyên lý của vạn vật, được Aristotle thuật lại, và phép đổi chữ thành số (gematria) của người Do Thái, Hy Lạp, tới Agrippa năm 1533. Các chỉ số trong bản luận này là của thế kỷ 20.
Thần số học không phải khoa học, và phép thử đã có không ủng hộ việc dùng nó để biết trước điều gì. Genovese (2017) tính số ngày sinh của 806 người đoạt giải Nobel: phân bố không khác ngẫu nhiên. Forer (1949) phát cho 39 sinh viên cùng một bản mô tả tính cách, và 34 người chấm nó 4 hoặc 5 trên 5 điểm: câu chung chung rất dễ được thấy là đúng với riêng mình. Vì vậy bản luận này bám vào con số của riêng từng người và không hứa điều gì sẽ xảy ra. Cách dùng đúng là coi nó như một bộ câu hỏi có truyền thống hơn một trăm năm để soi lại mình và sắp việc. Người đọc là người quyết.
Sách và bài tham chiếu
Sách cổ
- Cách đạt thành công nhờ sức mạnh của rung động: hệ thống số theo lời dạy của Pythagoras (How to Attain Success Through the Strength of Vibration: A System of Numbers as Taught by Pythagoras), Mrs. L. Dow Balliett, bản quyền 1905; bản chụp in 1913có trích trong bản này
- Triết lý về các con số: âm và màu của chúng (The Philosophy of Numbers: Their Tone and Colors), Mrs. L. Dow Balliett, 1908có trích trong bản này
- Tên, ngày và số (Names, Dates, and Numbers: What They Mean to You), Roy Page Walton, 1914có trích trong bản này
- Sách đầy đủ về thần số học: khám phá con người bên trong (The Complete Book of Numerology: Discovering Your Inner Self), David A. Phillips, bản ghi: 2006có trích trong bản này
- Bản giao hưởng của tự nhiên, hay các bài học về rung động của số (Nature's Symphony; or, Lessons in Number Vibration), Mrs. L. Dow Balliett (Sarah Joanna Balliett), 1911
- Ngày của minh triết theo rung động của số (The Day of Wisdom According to Number Vibration), Mrs. L. Dow Balliett, 1917
- Khoa học cổ xưa về các con số (The Ancient Science of Numbers: The Practical Application of Its Principles in the Attainment of Health, Success, and Happiness), Luo Clement, 1908
- Kabala của các con số: sổ tay diễn giải (The Kabala of Numbers: A Handbook of Interpretation), Sepharial, 1911
- Tên của bạn chứa gì? Khoa học về chữ và số (What's in Your Name? The Science of Letters and Numbers), Clifford W. Cheasley, 1916
- Sách về các con số của Cheiro (Cheiro's Book of Numbers), Cheiro (Count Louis Hamon), bản chụp không ghi năm (lần in thứ bảy)
- Các con số: quyền năng huyền bí và đức tính thần bí (Numbers: Their Occult Power and Mystic Virtue), W. Wynn Westcott, 1890
- Thần số học giảng cho dễ hiểu (Numerology Made Plain: The Science of Names and Numbers and the Law of Vibration), Ariel Yvon Taylor, 1926
- Biểu tượng học phương Tây (Western Symbology), Julia Seton, 1929
- Ngày của bạn đã được đánh số: cẩm nang thần số học cho mọi người (Your Days Are Numbered: A Manual of Numerology for Everybody), Florence Campbell, 1931
- Con số và vận mệnh của bạn (Your Number and Destiny), Juno Kapp Walton (về sau ký Juno Jordan), 1936
- Thần số học: câu chuyện trong tên bạn (Numerology: The Romance in Your Name), Juno Jordan, bản chụp in 1978
- Các con số và ảnh hưởng của chúng (Numbers and Their Influence (bản hiện hành: Numerology: Numbers and Their Influence)), Hettie Templeton; RoseMaree Templeton cập nhật, 1940 (theo nhà xuất bản); bản cập nhật 2016
- Bí mật của con người bên trong: sách đầy đủ về thần số học (Secrets of the Inner Self: The Complete Book of Numerology), David A. Phillips, 1980
- Thần số học: chìa khoá tới con người bên trong (Numerology: Key to Your Inner Self), Hans Decoz (cùng Tom Monte), bản ghi: 2002
- Aristotle, Siêu hình học, quyển A (Aristotle, Metaphysics, Book I (A), 985b–986a), Aristotle; Hugh Tredennick dịch, thế kỷ 4 trước Công nguyên; bản dịch 1933
- Iamblichus, Đời Pythagoras (Iamblichus, Life of Pythagoras, or Pythagoric Life), Iamblichus; Thomas Taylor dịch, khoảng năm 300; bản dịch in 1818
- Porphyry, Đời Pythagoras (Porphyry, Life of Pythagoras), Porphyry; Kenneth Sylvan Guthrie dịch, thế kỷ 3; bản dịch 1920
- Nicomachus xứ Gerasa, Nhập môn số học (Nicomachus of Gerasa, Introduction to Arithmetic), Nicomachus; Martin Luther D'Ooge dịch, kèm nghiên cứu của F. E. Robbins và L. C. Karpinski, thế kỷ 2; bản dịch 1926
- Thần học của số học (The Theology of Arithmetic (Theologoumena arithmeticae)), được gán cho Iamblichus; Robin Waterfield dịch, thế kỷ 4; bản dịch 1988
- Plutarch, Isis và Osiris (Plutarch, Isis and Osiris (Moralia), mục 75), Plutarch; Frank Cole Babbitt dịch, khoảng năm 100; bản dịch Loeb 1936
- Philo xứ Alexandria, Về sự sáng tạo thế giới (Philo of Alexandria, On the Creation (De opificio mundi)), Philo; C. D. Yonge dịch, thế kỷ 1
- Ba quyển Triết học huyền bí, quyển II, chương 20 (Three Books of Occult Philosophy, Book II, Chapter 20), Heinrich Cornelius Agrippa von Nettesheim, nguyên bản 1533; bản dịch tiếng Anh 1651
Bách khoa toàn thư
- Britannica: mục "thần số học" (Encyclopaedia Britannica: "numerology"), Ban biên tập Britannica, bản trực tuyến, cập nhật 2026
- Britannica: mục "biểu tượng số" (Encyclopaedia Britannica: "number symbolism"), Ian Stewart (giáo sư toán, Đại học Warwick), bản trực tuyến
- Britannica: mục "chủ nghĩa Pythagoras" (Encyclopaedia Britannica: "Pythagoreanism"), Holger Thesleff (giáo sư danh dự tiếng Hy Lạp, Đại học Helsinki), bản trực tuyến
- Britannica: mục "gematria" (Encyclopaedia Britannica: "gematria"), Ban biên tập Britannica, bản trực tuyến, cập nhật 2026
- Bách khoa triết học Stanford: mục "Pythagoras" (Stanford Encyclopedia of Philosophy: "Pythagoras"), Carl Huffman, đăng lần đầu 2005, sửa lớn 2024
- Bách khoa triết học Stanford: mục "Chủ nghĩa Pythagoras" (Stanford Encyclopedia of Philosophy: "Pythagoreanism"), Carl Huffman, đăng lần đầu 2006, sửa lớn 2024
- Bách khoa Do Thái 1906: mục "Gematria" (Jewish Encyclopedia (1906): "Gematria"), Solomon Schechter, Caspar Levias, 1906
- Bách khoa Do Thái 1906: mục "Số và chữ số" (Jewish Encyclopedia (1906): "Numbers and Numerals"), Ban biên tập, Caspar Levias, 1906
- Bách khoa Công giáo: mục "Việc dùng số trong Giáo hội" (Catholic Encyclopedia: "Use of Numbers in the Church"), bản in đầu thế kỷ 20, bản trực tuyến New Advent
- Encyclopedia.com: mục "Numerology" (Encyclopedia.com: "Numerology" (gộp Gale Encyclopedia of the Unusual and Unexplained; Encyclopedia of Occultism and Parapsychology)), Gale, bản trực tuyến, cập nhật 2018
- Từ điển của người hoài nghi: mục "numerology" (The Skeptic's Dictionary: "numerology"), Robert Todd Carroll, bản trực tuyến
Nghiên cứu học thuật
- Thần số học, hay điều Pythagoras đã gây ra (Numerology: Or, What Pythagoras Wrought), Underwood Dudley, 1997
- Truyền thuyết và khoa học trong chủ nghĩa Pythagoras cổ đại (Lore and Science in Ancient Pythagoreanism), Walter Burkert; Edwin L. Minar Jr. dịch, 1972
- Pythagoras và những người Pythagoras đầu tiên (Pythagoras and the Early Pythagoreans), Leonid Zhmud; Kevin Windle và Rosh Ireland dịch, 2012
- Lịch sử chủ nghĩa Pythagoras (A History of Pythagoreanism), Carl A. Huffman (chủ biên), 2014
- Biểu tượng số thời trung đại: nguồn gốc, ý nghĩa và ảnh hưởng (Medieval Number Symbolism: Its Sources, Meaning, and Influence on Thought and Expression), Vincent Foster Hopper, 1938
- Bí ẩn của các con số (The Mystery of Numbers), Annemarie Schimmel, 1993
- Đo trời: Pythagoras và ảnh hưởng của ông tới tư tưởng và nghệ thuật thời cổ và trung đại (Measuring Heaven: Pythagoras and His Influence on Thought and Art in Antiquity and the Middle Ages), Christiane L. Joost-Gaugier, 2006
- Thần số học (Numerology), E. T. Bell, 1933
- Thư mục có chú giải về sách thần số học (Books About Numerology and Number Divination: Annotated Bibliography), Catherine Yronwode, 2019
Nghiên cứu kiểm chứng
- Một phép thử thần số học: số ngày sinh có đoán được người đoạt giải Nobel không? (A Test of Numerology: Do Birth Numbers Predict Nobel Prize Winners?), Jeremy Genovese (Cleveland State University), 2017
- Nguỵ biện tự xác nhận: một minh hoạ trong lớp về tính cả tin (The fallacy of personal validation: a classroom demonstration of gullibility), Bertram R. Forer, 1949
- Hiệu ứng Barnum trong đánh giá nhân cách: tổng quan tài liệu (The 'Barnum Effect' in Personality Assessment: A Review of the Literature), D. H. Dickson, I. W. Kelly, 1985
- Hiệu ứng chữ cái trong tên (Narcissism beyond Gestalt and awareness: The name letter effect), Jozef M. Nuttin, 1985
- Vị kỷ ngầm và các quyết định lớn trong đời (Why Susie sells seashells by the seashore: Implicit egotism and major life decisions), Brett W. Pelham, Matthew C. Mirenberg, John T. Jones, 2002
- Tương quan giả? Hiệu ứng giống tên trong hôn nhân, nghề nghiệp và nơi ở (Spurious? Name similarity effects (implicit egotism) in marriage, job, and moving decisions), Uri Simonsohn, 2011
- Hiệu ứng Con chó săn của dòng họ Baskerville (The Hound of the Baskervilles effect: natural experiment on the influence of psychological stress on timing of death), David P. Phillips và năm đồng tác giả, 2001
- Sợ tới chết? (Scared to death?), Gary Smith (Pomona College), 2002
- Mê tín trên thị trường nhà ở (Superstition in the Housing Market), Nicole M. Fortin, Andrew J. Hill, Jeff Huang, 2014
- Giá trị của mê tín (The value of superstitions), Travis Ng, Terence Chong, Xin Du (Đại học Trung văn Hồng Kông), 2010
- Giới tính của con số: số chẵn và số lẻ được cảm nhận ra sao (The numerology of gender: gendered perceptions of even and odd numbers), James E. B. Wilkie, Galen V. Bodenhausen, 2015
Sách tiếng Việt
- Thay đổi cuộc sống với Nhân số học, Lê Đỗ Quỳnh Hương (dựa trên sách của David A. Phillips), 2020
Phần 10Phụ lục
Lá số của anh chị
- Hồ sơ thần số học. Năm xem: 2026, tuổi 34.
- Số chủ đạo (đường đời): 11. Số ngày sinh: 5. Số thái độ: 8.
- Từ họ tên: số sứ mệnh 3, số linh hồn 8 (từ nguyên âm), số nhân cách 4 (từ phụ âm). Số trưởng thành (chủ đạo cộng sứ mệnh): 5.
- Biểu đồ ngày sinh (chín ô): số 1 có 2 lần, số 2 có 1 lần, số 3 có 1 lần, số 4 có 1 lần, số 9 có 2 lần. Số vắng: 5, 6, 7, 8.
- Bốn giai đoạn đỉnh cao: giai đoạn 1 số 8 (tới 34 tuổi), giai đoạn 2 số 8 (tới 43 tuổi), giai đoạn 3 số 7 (tới 52 tuổi), giai đoạn 4 số 6 (về sau). Đang ở giai đoạn 1.
- Bốn số thử thách đi cùng bốn giai đoạn: 2, 2, 0, 0. Thử thách của giai đoạn đang ở: 2.
- Số năm cá nhân của năm 2026: 9.
- Số ngày sinh gốc 14 thuộc nhóm số mà một nhánh thần số học gọi là "nợ nghiệp" (13, 14, 16, 19).
Chữ của nghề trong bản luận này
- Số chủ đạo: con số tính từ ngày tháng năm sinh, nói hướng đi chung của một người.
- Số trưởng thành: con số cộng từ số đường đời và số sứ mệnh, nói hướng của nửa đời sau.
- Biểu đồ ngày sinh: lưới chín ô ghi các chữ số của ngày sinh.
- Số sứ mệnh: con số tính từ mọi chữ cái của họ tên, nói điều mình hay hướng tới.
- Số ngày sinh: con số của ngày sinh, nói một năng khiếu riêng.
- Số thử thách: con số nói bài học đi kèm mỗi giai đoạn.
- Mũi tên: ba ô thẳng hàng trên biểu đồ ngày sinh cùng đầy hay cùng trống.
- Số nhân cách: con số tính từ các phụ âm của họ tên, nói dáng vẻ người khác thấy.
- Số linh hồn: con số tính từ các nguyên âm của họ tên, nói điều mình mong ở bên trong.
- Đỉnh cao: bốn giai đoạn lớn của đời người, mỗi giai đoạn một con số.
- Năm cá nhân: con số của từng năm, tính từ ngày tháng sinh và năm đang xét.
Chỗ các phái đọc khác nhau
- Số chủ đạo có hai lối cộng (cộng thẳng mọi chữ số, hoặc rút riêng ngày, tháng, năm rồi cộng). Hai lối có lúc ra khác nhau ở chỗ dừng lại tại 11, 22, 33; bản luận dùng lối cộng thẳng.
- Các số 11, 22, 33 được giữ nguyên hay rút gọn là chỗ các tác giả không thống nhất.
- Biểu đồ ngày sinh và mũi tên là cách đọc của nhánh David Phillips. Nhánh ấy có ba chỗ khác cách Nhật Nguyệt tính: số chủ đạo chỉ gồm 2 tới 11 và 22 (không có số 1, không coi 33 là số bậc thầy); các số từ tên tính trên tên thường dùng chứ không trên họ tên đầy đủ; tuổi lên từng đỉnh tính khác và không có số thử thách.
- Hệ này dựng cho bảng chữ cái tiếng Anh. Tên tiếng Việt được bỏ dấu rồi mới đổi ra số: đó là quy ước của tiện ích, không sách gốc nào nêu. Đổi sang hệ Chaldean thì cùng một tên ra số khác.
