Tới nội dung

Lễ chạm ngõ (dạm ngõ)

Còn gọi: Giạm ngõ, Lễ giạm, Nạp thái

  • Vòng đời

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Mỗi nhà, mỗi vùng có thể làm khác.

Lễ chạm ngõ (dạm ngõ) là gì, làm khi nào?

Chạm ngõ, Phan Kế Bính gọi là giạm, là lễ nhà trai đem cau, trà đến nhà gái sau khi mối lái đã nói với cha mẹ cô gái và được bằng lòng gả[1]. Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi trong sáu lễ cưới xưa, người Việt thường giữ ba lễ: chạm ngõ, ăn hỏi và cưới; nhà nghèo có khi bỏ cả lễ chạm ngõ[2].

Cần chuẩn bị những gì?

  • Chọn ngàyNgười mối hẹn ngày với nhà gái; ngày chạm ngõ phải là ngày tốt, sách ghi là ngày âm dương bất tương, để vợ chồng sau này tốt lành[2].
  • Người điCha mẹ hay người chủ hôn nhà trai cùng chàng trai mang lễ sang nhà gái[2].

Lễ vật, mâm cúng

Trước khi sang, nhà trai sắm lễ cúng tổ tiên: nhà nghèo chỉ bát nước, nén hương, nhà khá giả mổ gà, thổi xôi[2]. Lễ mang sang nhà gái là một cơi trầu têm cánh phượng, cau bổ tư; nhà giàu đưa cả buồng cau, mười mớ trầu, mứt sen, trà lạng đựng trong quả sơn son thiếp vàng[2].

Có hướng dẫn kê lễ chạm ngõ gồm một cơi trầu 12 mớ, cau bổ tư hay để cả buồng, mứt sen, trà, rượu, thuốc lá và một thếp vàng[3].

Lễ vật thường gặp

Khác

  • Lễ cúng tổ tiên của nhà trai: nhà nghèo bát nước, nén hương; nhà khá giả gà, xôi
  • Cơi trầu têm cánh phượng, cau bổ tư
  • Nhà giàu: cả buồng cau, mười mớ trầu, mứt sen, trà lạng đựng trong quả sơn son thiếp vàng
Lễ vật
Lễ cúng tổ tiên của nhà trai: nhà nghèo bát nước, nén hương; nhà khá giả gà, xôi
Cơi trầu têm cánh phượng, cau bổ tư
Nhà giàu: cả buồng cau, mười mớ trầu, mứt sen, trà lạng đựng trong quả sơn son thiếp vàng

Nguồn: [1][2][3]

Các bước làm lễ

  1. Nhà trai thắp hương trình gia thần, gia tiên việc hệ trọng của chàng trai[3][2].
  2. Cha mẹ hay người chủ hôn nhà trai cùng chàng trai mang lễ trầu cau sang nhà gái xin đính ước[2].
  3. Cha cô gái đặt lễ lên bàn thờ gia thần, gia tiên, cúng trình việc hệ trọng của con gái[3].
  4. Từ đó, theo Phan Kế Bính, mồng năm, ngày Tết hay ngày kỵ nhật nhà gái, chàng rể đưa lễ vật đến; ít lâu sau mới làm lễ ăn hỏi[1].

Vì sao làm như vậy?

Bùi Xuân Mỹ ghi lễ cúng tổ tiên của nhà trai là để báo về công việc hệ trọng đối với chàng trai[2]. Phan Kế Bính ghi trước khi nhờ mối lái, nhà trai đã kén chỗ môn đăng hộ đối và xem đôi tuổi không xung khắc nhau[1].

Mỗi vùng làm khác nhau thế nào?

  • Hà NộiBáo Pháp Luật Việt Nam ghi người Hà Nội ít nhất phải giữ ba lễ chạm ngõ, lễ hỏi và rước dâu; lễ chạm ngõ vẫn được xem là thủ tục cần để người lớn hai nhà thưa chuyện với nhau[4].
  • HuếNgười Huế cũng có dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu, không có tục thách cưới; trước lễ hỏi, lễ cưới thường xem ngày giờ, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng[4].
  • Miền NamỞ miền Nam, người ta có thể bỏ qua lễ dạm ngõ, làm lễ ăn hỏi và đón dâu cùng một ngày[4].

Chuẩn bị văn khấn

Bài khấn yết cáo gia thần, gia tiên khi cưới gả dùng chung cho các ngày chạm ngõ, ăn hỏi và cưới, ở cả nhà trai lẫn nhà gái[3]. Người khấn lạy Hoàng thiên Hậu thổ, Thành hoàng, Thổ địa, Táo quân và tiên tổ, xưng tên, nơi ở, rồi trình con trai hay con gái kết duyên cùng con nhà ai[3].

Văn khấn lễ chạm ngõ (dạm ngõ)1 bài, giữ nguyên chữ, có chỗ điền tên và địa chỉ.

Cộng đồng và vùng

Nguồn

  1. Việt Nam phong tục, Thiên I, mục XIII. Giá thú, Phan Kế Bính 1915 (vi.wikisource.org)
  2. Bùi Xuân Mỹ (2001). Tục thờ cúng của người Việt. Hà Nội: NXB Văn hoá Thông tin
  3. Văn khấn khi cưới gả (vankhan.vn)
  4. Những nét khác biệt đáng yêu trong gia đình Việt (baophapluat.vn)

Thuộc bộ dữ liệu mở Loại lễ cúng Việt Nam và Nghi thức cúng Việt Nam, giấy phép CC BY 4.0.

Xem các lễ khácGiỗ chạp, Tết, nhà cửa, làm ăn, vòng đời, lễ làng và lễ các dân tộc.