Lễ tơ hồng, lễ hợp cẩn
Còn gọi: Tế tơ hồng, Bái tơ hồng, Giao duyên
- Vòng đời
- Ít còn thực hành, theo nguồn
Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.
Mỗi nhà, mỗi vùng có thể làm khác.
Lễ tơ hồng, lễ hợp cẩn là gì, làm khi nào?
Tế tơ hồng là lễ nhà trai tạ ơn ông Nguyệt lão, vị theo tục định trước việc vợ chồng; hợp cẩn là lễ đôi vợ chồng chia nhau miếng trầu, chén rượu tối hôm cưới[1]. Phan Kế Bính (1915) ghi tục hợp cẩn nhà đại gia mới dùng, nhà thường không mấy người dùng[1]; Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi chỉ một số gia đình còn theo tục tơ hồng[2].
Cần chuẩn bị những gì?
- Người chủ lễNgười chủ hôn vào lễ trước, hai vợ chồng vào lễ sau[2].
- Người trải chiếuBùi Xuân Mỹ ghi người trải chiếu cho vợ chồng phải là người ăn nên làm ra, con đàn cháu đống; mẹ chồng đủ điều ấy thì tự trải[2].
Lễ vật, mâm cúng
Lễ tế tơ hồng gồm gà, xôi, trầu, rượu, bày trên hương án ở sân[1]. Lễ hợp cẩn dùng chính miếng trầu đã tế tơ hồng và một chén rượu[1].
Các bước làm lễ
- Đón dâu về, nhà trai bày hương án ra sân với lễ gà, xôi, trầu, rượu[1].
- Người chủ hôn lễ trước, rồi hai vợ chồng lễ sau; thường lệ có đọc văn tế[2].
- Cô dâu chú rể vào phòng; ông cụ cầm hương dẫn đoàn đón dâu trải chiếu cho hai người, rót hai chén rượu mời uống rồi lui ra khép cửa[2].
- Tối hôm cưới, chồng lấy trầu tế tơ hồng trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa[1].
- Vợ trải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại: Phan Kế Bính ghi một vái[1], Bùi Xuân Mỹ ghi ba vái[2].
Vì sao làm như vậy?
Phan Kế Bính kể điển tơ hồng từ một chuyện bên Trung Hoa: Vi Cố đi chơi trăng gặp ông già xe sợi dây đỏ, tự xưng là Nguyệt lão coi việc xe duyên; đã buộc dây vào chân ai với ai thì thế nào cũng lấy nhau[1]. Vì tin việc vợ chồng có Nguyệt lão định trước, thành vợ chồng rồi người ta tạ ơn ông và cầu ông phù hộ cho ở được trăm năm[1].
Mỗi vùng làm khác nhau thế nào?
- HuếBáo Pháp Luật Việt Nam ghi đám cưới Huế có lễ bái tơ hồng diễn ra ở nhà gái; lễ vật tối thiểu gồm mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê[3].
- Nam BộBáo Thanh Niên tả đám cưới Nam Bộ xưa lập bàn tơ hồng trước sân, nhà trai gọi là tơ hồng, nhà gái gọi là điện nhạn, để tạ ơn ông Tơ bà Nguyệt trước khi vào trình báo tổ tiên[4].
Kiêng kỵ và lưu ý
- Bùi Xuân Mỹ ghi chiếu trải cho đôi vợ chồng phải phẳng, kiêng trải lệch[2].
Chuẩn bị văn khấn
Bùi Xuân Mỹ ghi văn tế tơ hồng mỗi nơi viết một khác, không có khuôn bắt buộc; nội dung ca tụng ông Tơ bà Nguyệt xe mối duyên lành và cầu cho đôi trẻ trọn tình nghĩa đến đầu bạc răng long[2]. Bài ông chép do người chủ hôn khấn: xưng tên, nơi ở, nói con mình kết duyên cùng con nhà ai, thủ tục hôn lễ đã thành, rồi dâng lễ trước án thờ Tơ hồng Nguyệt lão, ngũ tự gia thần và gia tiên[2].
Cộng đồng và vùng
Nguồn
- Việt Nam phong tục, Thiên I, mục XIII. Giá thú, Phan Kế Bính 1915 (vi.wikisource.org)
- Bùi Xuân Mỹ (2001). Tục thờ cúng của người Việt. Hà Nội: NXB Văn hoá Thông tin
- Những nét khác biệt đáng yêu trong gia đình Việt (baophapluat.vn)
- Đám cưới Nam bộ qua nhiều thập niên: Những lễ vật ít người còn thấy (thanhnien.vn)
Thuộc bộ dữ liệu mở Loại lễ cúng Việt Nam và Nghi thức cúng Việt Nam, giấy phép CC BY 4.0.
Xem các lễ khácGiỗ chạp, Tết, nhà cửa, làm ăn, vòng đời, lễ làng và lễ các dân tộc.Mở