Nhật Nguyệt

Tìm kiếm

Kết quả cho "dân tộc Ơ Đu"

Người nổi tiếng (1)

Đan Trường

Ca sĩ nhạc trẻ nổi tiếng cuối thập niên 1990 - đầu 2000

Bài viết kiến thức (39)

Dân tộc Ơ Đu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ơ Đu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ơ Đu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Tương Dương, Nghệ An, nổi bật với lễ đón tiếng sấm và tục thờ ma nhà.

Nhân vật lịch sử
Nhân vật lịch sử

Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang: Nét đẹp văn hóa tưởng niệm hơn 156 năm

Lễ giỗ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá, Kiên Giang diễn ra 26 đến 28/8 âm lịch, tưởng nhớ anh hùng hy sinh năm 1868, thu hút hơn 1 triệu lượt người.

Dân tộc Sán Dìu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Sán Dìu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Sán Dìu thuộc 54 dân tộc Việt Nam, nói thổ ngữ Hán Quảng Đông, sống ở trung du Bắc Bộ với tập tục thờ cúng và hát soọng cô đặc trưng.

Bìa bài viết "Phong tục các dân tộc thiểu số Việt Nam có gì đặc sắc?" thuộc chủ đề Phong tục dân tộc thiểu số trên Nhật Nguyệt
Phong tục dân tộc thiểu số

Phong tục các dân tộc thiểu số Việt Nam có gì đặc sắc?

Phong tục các dân tộc thiểu số Việt Nam đa dạng ở cưới hỏi, dựng nhà, thờ cúng và ứng xử cộng đồng, gắn với môi trường sống và tín ngưỡng bản địa.

Dân tộc Ngái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ngái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Dân tộc Cống: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cống: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cống là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ hội riêng.

Dân tộc Mảng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mảng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mảng thuộc 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me. Bài viết điểm lại nguồn gốc, tập tục thờ cúng và lễ hội chính.

Dân tộc Xtiêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Xtiêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.

Dân tộc La Ha: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc La Ha: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Bài viết tổng hợp tên gọi, dân số, nhà ở, hôn nhân và tập tục thờ cúng của người La Ha.

Dân tộc Lào: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Lào: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.

Dân tộc La Chí: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc La Chí: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc La Chí cư trú chủ yếu ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, có hệ thống bàn thờ riêng theo từng người đàn ông và các trò chơi dân gian ngày Tết.

Dân tộc Mạ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mạ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.

Dân tộc Cờ Lao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cờ Lao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cờ Lao cư trú ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, thờ thần đất và hồn lúa, ăn Tết Nguyên đán cùng các Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5.

Dân tộc Xinh Mun: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Xinh Mun: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Sơn La và Lai Châu, có tục ở rể, thờ cúng tổ tiên hai đời và lễ cúng bản hằng năm.

Dân tộc Mường: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mường: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.

Dân tộc Giáy: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Giáy: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.

Dân tộc Thái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Thái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.

Dân tộc Tày: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Tày: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Tày có 1.845.492 người theo điều tra 2019, cư trú ở thung lũng Đông Bắc, nói tiếng Tày - Thái, thờ tổ tiên và giữ các lễ hội lồng tồng đặc trưng.

Dân tộc Kháng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Kháng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Kháng cư trú lâu đời ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Sơn La, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ cúng tổ tiên và có lễ hội riêng.

Dân tộc Thổ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Thổ: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, cư trú chủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá, có hệ thống thờ cúng thần linh, tổ tiên và bà mụ riêng.

Dân tộc Mnông: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Mnông: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.

Dân tộc Lự: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Lự: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.

Dân tộc Chứt: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chứt: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.

Dân tộc Nùng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Nùng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Nùng.

Dân tộc Ra Glai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ra Glai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ra Glai sống ở vùng núi Nam Trung Bộ, nói tiếng nhóm Malayô-Pôlynêxia, theo chế độ mẫu hệ và có hệ lễ nghi nông nghiệp, thờ cúng riêng.

Dân tộc Co: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Co: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.

Dân tộc Si La: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Si La: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Si La cư trú ở Mường Tè, Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng Miến, thờ cúng tổ tiên và có lễ cúng bàn, tết năm mới, tết cơm mới.

Dân tộc Bru - Vân Kiều: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Bru - Vân Kiều: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Bru - Vân Kiều có 94.598 người, cư trú dọc Trường Sơn ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tiếng nói, thờ cúng và lễ hội chính.

Dân tộc Brâu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Brâu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.

Dân tộc Ba Na: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ba Na: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ba Na cư trú ở Gia Lai, Kon Tum và miền tây Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà; nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me và giữ nhiều lễ hội cộng đồng.

Dân tộc Chu Ru: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chu Ru: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chu Ru sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Ninh Thuận, nói tiếng nhóm Malayô-Polynêxia, theo chế độ mẫu hệ, thờ cúng gắn với chu kỳ canh tác ruộng nước.

Dân tộc Hà Nhì: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hà Nhì: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.

Dân tộc Xơ Đăng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Xơ Đăng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Xơ Đăng gồm các nhóm Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thờ thần nước, thần lúa.

Dân tộc Cơ Tu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cơ Tu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cơ Tu cư trú ở miền núi Quảng Nam và Thừa Thiên Huế, nói tiếng thuộc ngữ hệ Nam Á, có nhà Gươl, lễ đâm trâu và tục dồn mồ đặc sắc.

Dân tộc Phù Lá: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Phù Lá: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Phù Lá gồm các nhóm Phù Lá Lão, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán, sống ở Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Tìm hiểu tiếng nói, thờ cúng, lễ tết.

Dân tộc Rơ Măm: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Rơ Măm: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Rơ Măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú tập trung ở Kon Tum. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Rơ Măm.

Dân tộc Tà Ôi: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Tà Ôi: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Tà Ôi sống ở tây Quảng Trị và tây Thừa Thiên Huế, nói nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, thờ cúng đa thần và có lễ hội gắn với chu kỳ canh tác rẫy.

Dân tộc Lô Lô: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Lô Lô: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, cư trú chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, có hai nhóm Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen cùng nhiều tập tục riêng.

Dân tộc Gia Rai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Gia Rai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.