Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Nghi lễ vòng đời

Lễ tơ hồng và lễ hợp cẩn trong đám cưới xưa: Làm gì, lúc nào, ai làm?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Lễ tơ hồng và lễ hợp cẩn trong đám cưới xưa: Làm gì, lúc nào, ai làm?

TL;DR: Lễ tơ hồng là lễ tế ông Tơ bà Nguyệt (Nguyệt Lão) sau khi đón dâu về nhà chồng, cầu cho đôi trẻ sống với nhau trọn đời. Lễ hợp cẩn diễn ra sau đó, khi vợ chồng cùng ăn miếng trầu, uống chung một chén rượu (mỗi người một nửa) trong buồng cưới, đánh dấu lúc thành vợ chồng.

Lễ tơ hồng và lễ hợp cẩn là gì?

Lễ tơ hồng là lễ tế ông Tơ bà Nguyệt, vị thần được quan niệm se duyên cho vợ chồng, cử hành sau khi đón dâu về nhà trai. Lễ hợp cẩn là nghi thức vợ chồng cùng ăn trầu, uống rượu chung trong buồng cưới, thường vào tối ngày cưới.

Hai lễ này nằm trong chuỗi nghi thức đưa dâu, sau lễ gia tiên và trước lễ lại mặt. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, in năm 1915, chép lễ tế tơ hồng được bày hương án ra sân, dùng lễ gà, xôi, trầu, rượu, rồi hai vợ chồng đều vào lễ[1].

Bài này chỉ nói nghi thức. Sự tích ông Tơ bà Nguyệt và sợi chỉ hồng được kể ở bài Sự tích ông Tơ bà Nguyệt và sợi chỉ hồng se duyên. Trình tự đầy đủ sáu nghi thức cưới hỏi xem ở bài Cưới hỏi truyền thống Việt Nam: Trình tự 6 nghi thức cơ bản.

Lễ tơ hồng làm lúc nào, ai làm, văn tế nói gì?

Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), sau khi đón dâu về, cô dâu chú rể vào lạy gia tiên, đi lễ các nhà thờ của đôi bên, rồi mới làm lễ tế tơ hồng[2]. Theo chép của Bùi Xuân Mỹ (2001), khi dâu đã về nhà chồng, gia đình chú rể bày hương án ở sân, sắm lễ xôi, gà, trầu, rượu; chủ hôn lễ trước, đôi vợ chồng lễ sau, và thường có đọc văn tế[2]. Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) ghi tương tự: chủ hôn vào lễ trước, hai vợ chồng vào lễ sau[3].

Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), về nội dung văn tế, mỗi nơi có cách viết riêng và không bị ràng buộc bởi khuôn phép nào; lời tế dùng để ca tụng công đức của ông Tơ bà Nguyệt trong việc xe duyên lành cho đôi trẻ, đồng thời cầu mong các ngài phù hộ cho cô dâu chú rể sống với nhau trọn tình trọn nghĩa đến đầu bạc răng long và sinh nhiều con đàn cháu đống[2]. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng ghi nội dung chính như vậy[3].

Sách của Bùi Xuân Mỹ (2001) còn ghi nhận: phong tục này chỉ có một số gia đình ở Việt Nam còn theo, phần nhiều đại chúng thì bỏ qua[2]. Theo Song Mai và Quỳnh Trang (2006), đây là phong tục không phổ biến, chỉ xuất hiện ở một vài địa phương[3].

Lễ hợp cẩn và tục trải chiếu diễn ra thế nào?

Trong buồng cưới, vợ chồng cùng ăn miếng trầu và uống chung chén rượu, mỗi người một nửa; đó là lễ hợp cẩn. Theo ghi chép của Bùi Xuân Mỹ (2001), sau nghi lễ tế ông Tơ bà Nguyệt, đôi tân hôn bước vào phòng riêng; ông cụ một tay cầm hương, một tay dẫn đầu đoàn đón dâu bên nhà trai đến trải chiếu cho hai người, chiếu phải được trải thật phẳng, kiêng kỵ việc trải lệch; tiếp theo, cụ rót hai chén rượu mời cô dâu và chú rể cùng uống, sau đó khéo léo rút ra ngoài và khép cửa buồng lại[2]. Bữa cơm đầu tiên sẽ do cô dâu chú rể cùng ăn với nhau. Đến tối hôm đó, khi vào phòng, người chồng lấy cơi trầu tế tơ hồng, trao cho vợ một miếng và rót một chén rượu để hai người uống mỗi người một nửa; nghi thức ấy gọi là lễ hợp cẩn[2].

Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ghi chi tiết tương tự về việc trải chiếu, rót hai chén rượu mời cô dâu chú rể uống, rồi cụ lui ra khép cửa buồng[3]. Cuốn sách này cũng ghi lại tục lệ trải chiếu: trong buồng đã có sẵn một đôi chiếu mới được trải úp lên nhau; người thực hiện việc trải chiếu phải là người làm ăn phát đạt, đông con nhiều cháu; nếu mẹ chồng hội đủ những điều kiện kể trên thì bà sẽ là người trải chiếu và dọn giường cho cô dâu chú rể[3].

Theo chép của Bùi Xuân Mỹ (2001) về tục trải chiếu: người trải chiếu cho vợ chồng cô dâu phải là người ăn nên làm ra, con đàn cháu đống; nếu mẹ chồng đủ điều kiện như trên thì mẹ chồng tự trải chiếu, dọn giường cho cô dâu chú rể[2].

Bảng: Các bước, người làm, đồ dùng qua sách ghi chép

BướcAi làmĐồ dùng, lễ vậtSách ghi
Lễ tơ hồngChủ hôn lễ trước, hai vợ chồng lễ sauHương án bày ra sân, xôi, gà, trầu, rượuBùi Xuân Mỹ (2001)[2]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3]; Phan Kế Bính (1915)[1]
Trải chiếuÔng cụ cầm hương dẫn đoàn đón dâu; hoặc mẹ chồng nếu đủ điều kiệnĐôi chiếu mới trải úp vào nhauBùi Xuân Mỹ (2001)[2]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3]
Rót rượu mờiÔng cụ (hoặc cụ) rót hai chén rượuHai chén rượuBùi Xuân Mỹ (2001)[2]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3]
Ăn cơm đầu tiênCô dâu chú rểBùi Xuân Mỹ (2001)[2]
Lễ hợp cẩnNgười chồng trao trầu, rót rượu; hai người cùng uốngCơi trầu, một chén rượu, mỗi người uống một nửaBùi Xuân Mỹ (2001)[2]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3]

Lễ tơ hồng có ý nghĩa gì theo quan niệm dân gian và các sách ghi khác nhau ở đâu?

Người ta quan niệm vợ chồng lấy được nhau là do ông Nguyệt Lão định trước, nên phải tạ ơn và cầu ông phù hộ cho sống với nhau trọn đời[2][3]. Việc chia nhau chén rượu, miếng trầu được hiểu là biểu tượng của sự gắn bó, cùng chung một lời nguyện ước.

Theo sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1915), về tên gọi và nguồn gốc, lễ tế tơ hồng có xuất xứ từ một câu chuyện Trung Quốc thời xưa: Vi Cố, một người nọ, có lần đi chơi trăng, bắt gặp một ông già đang se những sợi dây đỏ dưới ánh trăng; khi được hỏi, ông già tự nhận là Nguyệt Lão, người trông coi việc se duyên vợ chồng cho nhân gian[1]. Đây là lời kể trong sách của Phan Kế Bính, không phải nghiên cứu nguồn gốc.

Cả Bùi Xuân Mỹ (2001) lẫn Song Mai và Quỳnh Trang (2006) đều nhắc hai người có thể trải chiếu: ông cụ cầm hương dẫn đoàn đón dâu, và người ăn nên làm ra, con đàn cháu đống, tức mẹ chồng nếu bà đủ điều kiện[2][3]. Các sách không nói khi nào chọn người nào.

Các sách trên đều mô tả tập quán của người Kinh, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, từ đầu thế kỷ 20 đến cuối thế kỷ 20. Không nên suy rộng cho Trung Bộ, Nam Bộ, các dân tộc khác hay cho ngày nay khi sách không nói.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu

  • Lễ tơ hồng không phổ biến: Bùi Xuân Mỹ (2001) và Song Mai, Quỳnh Trang (2006) đều ghi phong tục này chỉ còn ở một số địa phương, nhiều nơi bỏ qua[2][3].
  • Văn tế mỗi nơi một khác: không có khuôn mẫu bắt buộc; lời tế chủ yếu ca tụng công đức ông Tơ bà Nguyệt và cầu mong các ngài phù hộ[2][3].
  • Trình tự: lễ tơ hồng diễn ra sau lễ gia tiên, trước lễ hợp cẩn và lễ lại mặt[2][3].
  • Phạm vi ghi chép: các sách mô tả tập quán người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ, không đại diện cho toàn quốc hay các dân tộc khác.

Câu hỏi thường gặp

Lễ tơ hồng có bắt buộc trong đám cưới không?

Không bắt buộc. Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi phong tục này chỉ có một số gia đình còn theo, phần nhiều đại chúng bỏ qua[2]. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng ghi không phổ biến, chỉ có ở một số địa phương[3].

Lễ hợp cẩn khác gì với lễ tơ hồng?

Lễ tơ hồng là lễ tế thần Tơ hồng, có hương án, lễ vật, văn tế, thường làm ngoài sân. Lễ hợp cẩn là nghi thức vợ chồng cùng ăn trầu, uống rượu trong buồng cưới, không có văn tế[2][3].

Vì sao cô dâu chú rể chia nhau chén rượu?

Theo quan niệm dân gian, việc cùng uống chung một chén rượu, mỗi người một nửa, tượng trưng cho sự gắn bó, cùng chia sẻ cuộc sống sau khi thành vợ chồng[2][3]. Sách của Bùi Xuân Mỹ (2001) và Song Mai, Quỳnh Trang (2006) đều ghi tục này như một nghi thức trong lễ hợp cẩn[2][3].

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Lễ tơ hồng có bắt buộc trong đám cưới không?

Không bắt buộc. Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi phong tục này chỉ có một số gia đình còn theo, phần nhiều đại chúng bỏ qua. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng ghi không phổ biến, chỉ có ở một số địa phương.

Lễ hợp cẩn khác gì với lễ tơ hồng?

Lễ tơ hồng là lễ tế thần Tơ hồng, có hương án, lễ vật, văn tế, thường làm ngoài sân. Lễ hợp cẩn là nghi thức vợ chồng cùng ăn trầu, uống rượu trong buồng cưới, không có văn tế.

Vì sao cô dâu chú rể chia nhau chén rượu?

Theo quan niệm dân gian, việc cùng uống chung một chén rượu, mỗi người một nửa, tượng trưng cho sự gắn bó, cùng chia sẻ cuộc sống sau khi thành vợ chồng. Sách của Bùi Xuân Mỹ (2001) và Song Mai, Quỳnh Trang (2006) đều ghi tục này như một nghi thức trong lễ hợp cẩn.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, trang 13TẾ tơ hồng.= DBày hương án ra sân, dùng lễ gà; xôi, trầu, rượu, tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.
  2. ↑ abcdefghijklmnopqrstuBùi Xuân Mỹ. Tục thờ cúng của người Việt, trang 17-19Sau khi đón dâu về, gia đình chú rể bay hương án ra sân, dùng lễ xôi gà trầu rượu, chủ hôn vào lễ trước, rôi hai vợ chéng vào lễ sau, thường lệ có đọc văn tế.
  3. ↑ abcdefghijklmnopqrSong Mai (tuyển soạn) và Quỳnh Trang (tuyển soạn). Phong tục thờ cúng của người Việt, trang 85-86Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau là có ông Nguyệt Lão định trước, cho nên phải tạ ơn ông ấy và cầu ông phù hộ được sống với nhau trọn đời.
#LễTơHồng#LễHợpCẩn#ĐámCướiXưa#PhongTụcCướiHỏi#NghiLễVòngĐời