
TL;DR: Giỗ hậu là việc người lo không có người cúng giỗ sau khi mất (thường vì không có con trai, không lập tự) đem tiền hoặc ruộng giao cho họ, làng hay chùa, để nơi nhận lo việc cúng giỗ về sau. Người nhận lập tờ ký kết, dựng bia ghi tên, số tiền, số ruộng và ngày lễ; đến ngày ấy làng, họ hay chùa đứng cúng. Tục này được các sách phong tục đầu và giữa thế kỷ 20 mô tả ở làng người Kinh đồng bằng Bắc Bộ, không nói gì về ngày nay.
Giỗ hậu là gì?
Giỗ hậu là việc cúng giỗ do người khác đứng ra làm thay, sau khi người quá cố đã giao tiền hoặc ruộng cho họ, làng hay chùa để đổi lấy việc ấy. Tục này dành cho người biết trước rằng sau khi mất sẽ không có người cúng giỗ: người không có con trai, người không phải ngành trưởng nên không lập tự, và người nghĩ rằng kẻ thừa tự về sau vẫn có thể bỏ giỗ mình[1].
Phan Kế Bính (1915) chép tục này trong mục về phong tục hương đảng của Việt Nam phong tục[2]. Toan Ánh (2001) gọi những giỗ cúng như vậy là giỗ hậu và giải thích thêm: người mua hậu có thể phòng sẵn việc trăm tuổi của mình, nhờ làng, chùa, chiền hoặc họ làm ma, bằng cách cúng một số tiền hay một số ruộng[1].
Cần phân biệt giỗ hậu với việc gửi giỗ khi ở xa: Cúng giỗ vọng khi ở xa quê không về được nói về người còn sống nhờ nơi khác cúng hộ trong lúc mình không về được; giỗ hậu là chuyện người đã khuất, lo trước cho việc cúng giỗ của chính mình sau khi mất.
Mua hậu, ký hậu: nộp gì và ghi ở đâu?
Người mua hậu nộp tiền hoặc ruộng, và việc này được ghi thành tờ ký kết, dựng bia, có khi chép vào hương ước. Về các nơi nhận ký hậu, Phan Kế Bính (1915) kể rằng có người chọn đình miếu, có người chọn chùa, có người chọn bản thôn hay bản tộc, lại cũng có người chọn biệt xã là quê ngoại của mình. Nơi nào đã nhận tiền và ruộng đất của người mua hậu, dù là hàng giáp, hàng thôn, nhà chùa, bản tộc hay biệt xã, đều phải lập tờ ký kết và cho dựng bia đá, bia đặt tại đình miếu, tại chùa hoặc trong từ đường[2].
Theo Phan Kế Bính (1915), bia ghi chép đầy đủ danh tính người mua hậu cùng phủ huyện, tổng xã của họ; số tiền dân làng nhận và mục đích chi dùng; diện tích ruộng đất ký hậu cùng vị trí; và ngày tháng hằng năm, lễ vật dùng để cúng tế. Ngoài ra, bia còn khắc vài câu ca ngợi công đức người mua hậu, có giá trị như một văn bản ký kết. Vào hôm ký tờ và dựng bia, người mua hậu phải sắm rượu thết dân làng ăn uống; kể từ đó, làng gọi người ấy bằng danh xưng ông hậu bà hậu[2].
Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) chép rằng nhiều làng ghi khoản mua hậu trong hương ước; tiền mua giỗ hậu nộp vào quỹ làng để sắm thêm tư khí, mở đền, đình hoặc dùng vào các việc công ích khác[3]. Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng nhắc lại rằng nhiều làng ghi việc này trong hương ước[4].
Vật nộp có thể là tiền, cũng có thể là ruộng. Toan Ánh (2001) ghi: mua hậu có thể mua bằng tiền hay ruộng nương[1]. Về người mua hậu, Phan Kế Bính (1915) cho biết không chỉ những nhà ít con mới làm việc này: nhà nào con cháu đông đúc mà giàu có nhiều của cũng mua hậu, một là để giúp việc cho làng, hai là để cả làng phải cúng giỗ mình[2].
Giỗ hậu làm ở đâu và ai đứng cúng?
Giỗ hậu thường cúng ở nhà hậu, một căn nhà riêng tại đình hoặc chùa dùng để làm giỗ hậu; nơi đứng cúng tùy nơi nhận hậu. Theo Toan Ánh (2001), nếu giỗ hậu làm tại nhà thờ họ thì trưởng tộc cúng giỗ và mời một số con cháu trong họ tới dự. Ở đình, hương chức và quan viên làm lễ cúng giỗ, sau đó cùng chia phần hưởng lộc hậu, ăn uống tại đình hoặc mang về; người đứng khấn giỗ tại đình thường là ông thủ từ hoặc ông tiên chỉ. Cùng ngày ấy, ngoài lễ cúng hưởng giỗ, dân làng còn phải ra lễ cáo Thành hoàng. Tại chùa, việc khấn vái do một vị sư đảm nhận, và trong ngày giỗ hậu, kinh được tụng để cầu an cho vong hồn người khuất[1].
Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) cũng ghi nhận tương tự: giỗ hậu thường được cúng nơi nhà hậu, một căn nhà riêng tại đình, chùa dùng để làm giỗ hậu; nếu làm tại chùa thì sư trụ trì khấn vái và tụng kinh cầu an cho vong hồn người đã khuất; nếu làm tại nhà thờ họ thì tộc trưởng cúng giỗ và mời con cháu trong họ tới dự; nếu làm tại đình thì hương chức, quan viên cúng giỗ rồi chia phần hưởng lộc hậu, và người khấn thường là ông thủ từ hoặc vị tiên chỉ trong làng[3].
Về lễ vật ngày giỗ hậu, Phan Kế Bính (1915) tả rằng dân làng hoặc bản tộc phải sắm gà xôi trầu rượu, hoặc thủ lợn với mâm xôi, hoặc làm bò để tế; riêng hậu chùa thì dọn cỗ chay để cúng. Nếu con cháu người có hậu còn sống, họ mang trầu rượu đến lễ; nếu không còn ai thì thôi. Sau khi lễ xong, làng có biếu lại chủ nhà một ít, phần còn lại thì cùng nhau ăn uống. Vào mỗi kỳ tế thần trong năm, làng cũng có cúng lễ các hậu thần; con cháu người có hậu đem vàng hương trầu rượu đến lễ thánh, và dân làng cũng có phần biếu[2].
Nhà hậu ở đình chùa là gì?
Nhà hậu là căn nhà riêng trong khu đình hoặc chùa, dùng làm nơi cúng giỗ hậu. Khi tả kiến trúc chùa, Phan Kế Bính (1915) có nhắc đến nhà hậu: đó là nơi thờ những người mua hậu chùa, và đến ngày giỗ thì nhà chùa phải đứng ra giỗ[2]. Toan Ánh (2001) định nghĩa nhà hậu là một căn nhà riêng tại các đình chùa dùng để làm giỗ hậu[1]. Như vậy nhà hậu không phải nơi thờ tự chung của làng, mà gắn với nghĩa vụ cúng giỗ của những người đã giao tiền hoặc ruộng cho đình, chùa.
Bảng: nơi ký hậu, ai đứng cúng, sách ghi
| Nơi ký hậu | Ai đứng cúng giỗ hậu | Sách ghi |
|---|---|---|
| Nhà thờ họ (bản tộc) | Tộc trưởng cúng, mời con cháu trong họ dự | Toan Ánh (2001)[1]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3] |
| Đình (nhà hậu tại đình) | Ông thủ từ hoặc ông tiên chỉ khấn; hương chức, quan viên cúng và chia lộc hậu; dân làng làm lễ cáo Thành hoàng | Toan Ánh (2001)[1]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3] |
| Chùa (nhà hậu tại chùa) | Sư trụ trì khấn vái, nhà sư tụng kinh cầu an cho vong hồn người khuất | Toan Ánh (2001)[1]; Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3] |
| Bản thôn, biệt xã (quê ngoại) | Phan Kế Bính (1915) chỉ nêu nơi ký hậu, không nói ai đứng cúng[2] |
Ngô Tất Tố kể tục đặt hậu trong làng (1940)
Phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố (1940) kể lại một vụ đặt hậu ở làng quê Bắc Bộ, qua lời một người trong làng, kèm thái độ phê phán của người đương thời. Trong đoạn phóng sự, người kể chuyện nói về một bà cụ đang xin đặt hậu ở làng: việc này không phải tự ý bà, mà do người con trai cả thấy thím còn ruộng và nhà, muốn bán nốt nhưng trong làng không ai mua, bèn bàn với ông Điển xui bà đặt hậu, hứa chia tiền nếu xong việc[5].
Theo lời kể, bà cụ được tán rằng nếu đem một phần ruộng giao cho làng thì sau này làng sẽ cúng giỗ cúng tết bà mãi mãi. Nghe xuôi tai, bà sai con đi thưa với các ông kỳ dịch, xin nộp một mẫu ruộng làm ruộng hậu và một trăm bạc để làng sung công, lại sắm một con lợn với cỗ xôi, trước lễ thánh, sau kính làng. Các ông hào lý nhận lời[5].
Đợi đến khi đơn ký hậu đã làm xong, bà mới biết mình mắc vào tròng, lúc ấy họ mới giở ngón: ông Điển đòi năm chục, chánh hội và lý trưởng mỗi người đòi ba chục, có thế họ mới chịu ký tên vào đơn. Bà hoảng, định xin thôi, nhưng họ dọa rằng bỏ dở như vậy là đánh lừa làng, họ sẽ đệ đơn trình quan, và sau khi bà chết làng sẽ không khiêng nữa. Cuối cùng, bà chỉ xin giảm bớt khoản tiền nhuận bút dành cho các vị hào lý[5].
Đoạn phóng sự cho thấy việc đặt hậu không chỉ là chuyện tín ngưỡng, mà còn là chuyện tiền và quyền của bộ máy làng xã. Người kể chuyện trong Việc làng không giấu thái độ phê phán những người lợi dụng tục lệ để moi tiền. Đây là lời kể và lời bình của một người đương thời, không phải bản mô tả trung lập về tục.
Những điểm các sách không thống nhất hoặc không nói
Các sách không thống nhất ở một số chi tiết. Toan Ánh (2001) và Song Mai, Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) đều nói người khấn giỗ tại đình là ông thủ từ hoặc ông tiên chỉ, nhưng không nói rõ ai trong hai người đứng ra khấn trong trường hợp nào. Phan Kế Bính (1915) chỉ tả lễ vật và việc làng cúng, không nêu tên người khấn[2].
Về thời điểm xuất hiện của tục, hiện chưa rõ tục mua hậu có từ bao giờ. Phan Kế Bính (1915) ghi nhận tục đang tồn tại ở đầu thế kỷ 20, nhưng không truy nguyên gốc. Các sách cũng không nói tục này có ở Trung Bộ, Nam Bộ hay ở các dân tộc khác hay không; các mô tả đều tập trung vào làng người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ.
Về việc hương ước ghi khoản mua hậu, Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) và Bùi Xuân Mỹ (2001) đều nhắc, nhưng không dẫn một bản hương ước cụ thể nào. Không có bản hương ước nào được chép lại nguyên văn để đối chiếu.
Liên kết sang các bài liên quan
- Cúng giỗ vọng khi ở xa quê không về được: bàn về gửi giỗ và cúng vọng khi người sống ở xa, khác với giỗ hậu là việc lo trước cho người đã khuất.
- Ai đứng ra cúng giỗ: con trưởng, con thứ, con gái, con dâu: bàn về thứ tự người đứng cúng trong gia đình, trong khi giỗ hậu là trường hợp không có người trong gia đình đứng cúng.
Vì sao tục này lại có?
Các sách phong tục giải thích động cơ của người mua hậu bằng nỗi lo không có người cúng giỗ sau khi mất. Toan Ánh (2001) viết rằng những người này "cũng không muốn sau khi chết phải đi chịu cảnh cướp cháo lá đa", tức là cảnh những vong hồn không ai hương khói phải tranh cướp đồ cúng trong các lễ cúng cô hồn[1]. Đây là cách giải thích theo quan niệm dân gian về vong hồn và việc cúng giỗ, không phải mệnh đề về thế giới bên kia.
Theo Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006), người mua hậu còn nghĩ rằng kẻ thừa tự về sau vẫn có thể bỏ giỗ mình, nên đem tiền của cúng vào họ, chùa, đền hoặc đình[3]. Cách lý giải này cho thấy tục mua hậu gắn với cấu trúc của làng xã và dòng họ: khi dòng dõi không chắc chắn, người ta tìm đến một thiết chế bền hơn cá nhân để bảo đảm việc thờ cúng.
Cũng cần lưu ý rằng các sách phong tục là tư liệu mô tả tập quán, không phải công trình nghiên cứu thực địa có phương pháp. Chúng ghi lại điều người ta làm và tin ở một vùng, một thời, kèm lời bình phẩm của tác giả. Không có tư liệu nói tục mua hậu ngày nay còn hay không, và cũng không nói các nơi thờ tự ngày nay có còn nhận giỗ hậu theo lệ cũ hay không.
