Nhật Nguyệt

Tri thức / Tây phương / Thần số học

Thần số học

Nhật Nguyệt trong thần số học: vì sao số 1 ứng Mặt Trời, số 2 ứng Mặt Trăng

Hệ hiện đại Hệ hình thành gần đây.

Chia sẻ:
Nhật Nguyệt trong thần số học: vì sao số 1 ứng Mặt Trời, số 2 ứng Mặt Trăng

TL;DR: Trong thần số học phương Tây hiện đại, số 1 ứng Mặt Trời và số 2 ứng Mặt Trăng. Đó là quy ước của một hệ, phổ biến qua cuốn Cheiro's Book of Numbers in ở London năm 1926: Cheiro coi số 1 là khởi đầu và nguyên lý sáng tạo, số 2 mang "thuộc tính nữ tính của Mặt Trời", và tự nói ông không giải thích vì sao mỗi số được gán như vậy. Thần số học tính theo ngày sinh hình thành cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và chỉ mượn tên Pythagoras; một phép kiểm năm 2017 trên 806 người đoạt giải Nobel không thấy số sinh có sức dự đoán nào.

Vì sao thần số học gán số 1 cho Mặt Trời và số 2 cho Mặt Trăng?

Vì hệ thần số học phổ biến nhất hiện nay theo quy ước của Cheiro, không vì một quy luật thiên văn hay toán học nào. Trong Cheiro's Book of Numbers, in lần đầu ở London năm 1926, Cheiro (bút danh của William John Warner, một nhà xem chỉ tay nổi tiếng) mở chương về số 1 bằng câu "số 1 trong hệ biểu tượng này đứng cho Mặt Trời", và mở chương về số 2 bằng câu "số 2 đứng cho Mặt Trăng"[1].

Lý lẽ của ông nằm trong chính hai chương ấy. Số 1 là "khởi đầu, là cái mà từ đó các số còn lại trong chín số được tạo ra", vì "nền của mọi số là một, nền của mọi sự sống là một"; nó đại diện cho mọi thứ sáng tạo, cá nhân và dương[1]. Số 2 "mang thuộc tính nữ tính của Mặt Trời"[1]. Trong lời giải thích con dấu bảy cánh mà ông gọi là Seal of Solomon, Mặt Trời là "phẩm chất nam tính của Sáng tạo", còn Mặt Trăng là phía nữ tính trên bình diện vật chất[1].

Cặp 1 và 2 vì thế được dựng như cặp dương và âm, nam và nữ, rồi gắn vào hai vầng sáng lớn nhất trên trời.

Ngoài lý lẽ biểu tượng ấy, Cheiro không chứng minh gì thêm. Ông viết rằng mình sẽ trình bày "không đi vào mô tả công phu vì sao ảnh hưởng này hay kia được gán cho con số này hay kia", và khẳng định các số đã được gán cho các hành tinh "từ những thời xa xưa nhất của văn minh", được mọi người học huyền học Chaldea, Ấn Độ, Ai Cập hay Hebrew dùng[1]. Lời khẳng định về gốc cổ ấy không kèm tư liệu nào.

Cheiro gán chín con số cho những thiên thể nào?

Cheiro gán chín số cho Mặt Trời, Mặt Trăng, năm hành tinh thấy bằng mắt thường cộng Thiên Vương Tinh và Hải Vương Tinh; riêng Mặt Trời và Mặt Trăng mang hai số. Ông gọi tất cả là "hành tinh" và viết rằng hệ Mặt Trời chỉ có chín hành tinh[1]. Bảng dưới chép đúng danh sách số của các hành tinh và số của các ngày trong tuần trong sách[1].

SốThiên thể theo CheiroNgày trong tuần mang số ấy
1Mặt TrờiChủ nhật (cặp 1-4)
2Mặt Trăngthứ Hai (cặp 2-7)
3Mộc Tinhthứ Năm
4Thiên Vương TinhChủ nhật (cặp 1-4)
5Thủy Tinhthứ Tư
6Kim Tinhthứ Sáu
7Hải Vương Tinhthứ Hai (cặp 2-7)
8Thổ Tinhthứ Bảy
9Hỏa Tinhthứ Ba

Mặt Trời và Mặt Trăng là "hai hành tinh duy nhất có số đôi"[1]. Cặp 1-4 là Mặt Trời ghép với Thiên Vương Tinh, cặp 2-7 là Mặt Trăng ghép với Hải Vương Tinh; trên con dấu bảy cánh, đường vẽ đi từ Mặt Trời sang Mặt Trăng, rồi Hỏa Tinh, Thủy Tinh, Mộc Tinh, Kim Tinh, Thổ Tinh, và từ Thổ Tinh, "biểu tượng của cái chết", quay về Mặt Trời để bắt đầu một vòng mới[1]. Vì thế trong sách, 1, 2, 4, 7 là các số "hoán đổi được" với nhau: người số 1 được cho là hợp với người sinh các ngày mang số 2, 4, 7[1].

Trong thiên văn học, Mặt Trời là một ngôi sao và Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất. Gọi chúng là hành tinh là cách gọi của chiêm tinh cổ, được thần số học mượn lại.

Người mang số 1 và số 2 theo Cheiro là ai?

Theo Cheiro, số của một người là ngày sinh dương lịch rút gọn về một chữ số: người sinh ngày 1, 10, 19, 28 mang số 1, người sinh ngày 2, 11, 20, 29 mang số 2[1]. Bảng sau so hai số theo đúng các mục trong sách[1].

MụcSố 1, Mặt TrờiSố 2, Mặt Trăng
Ngày sinh1, 10, 19, 282, 11, 20, 29
Thời kỳ đặc điểm rõ nhất21/7 tới 28/8 ("Nhà của Mặt Trời") và 21/3 tới 28/420/6 tới 27/7 ("Nhà của Mặt Trăng")
Tính cách được gánsáng tạo, độc đáo, rõ quan điểm, vì thế khá bướng và quyết đoánhiền, giàu tưởng tượng, thiên về nghệ thuật, lãng mạn; có óc sáng tạo nhưng kém quyết liệt khi thực hiện
Ngày trong tuần "may"Chủ nhật, thứ HaiChủ nhật, thứ Hai, thứ Sáu
Màu "may"các sắc vàng kim, vàng, đồng tới nâu vàngcác sắc xanh lục, kem, trắng
Đá "may"topaz, hổ phách, kim cương vàngngọc trai, đá mặt trăng, đá xanh lục nhạt, ngọc bích

Cheiro viết rằng người số 1 và người số 2 "đối lập hẳn về tính cách" nhưng "rung động hài hòa" và hợp nhau, chính vì số 2 mang thuộc tính nữ tính của Mặt Trời[1].

Cách tính của Cheiro khác cách tính số đường đời ra sao?

Cheiro chỉ dùng ngày trong tháng, còn cách phổ biến hiện nay cộng cả ngày, tháng, năm sinh, nên cùng một người có thể ra hai số khác nhau. Jeremy Genovese (2017) mô tả cách thứ hai qua ví dụ Barack Obama, sinh ngày 4/8/1961: 4 + 8 + 1961 = 1973, rồi 1 + 9 + 7 + 3 = 20, rồi 2 + 0 = 2. Ông cũng ghi nhận các sách không thống nhất cả tên gọi của con số này: "birth number", "life path number", "astral number", "fate number", "Fadic number".

Lấy một người sinh ngày 28/3/1990: theo Cheiro, 2 + 8 = 10, rồi 1 + 0 = 1, người ấy mang số 1, số của Mặt Trời; cộng mọi chữ số của cả ngày tháng năm thì 2 + 8 + 3 + 1 + 9 + 9 + 0 = 32, rồi 3 + 2 = 5. Chỗ vênh còn lớn hơn ở các hệ giữ 11 và 22 làm "số chủ": Genovese chỉ ra rằng khi ấy thứ tự cộng đổi được kết quả. Với ngày 5/5/1999, cộng dồn 5 + 5 + 1 + 9 + 9 + 9 = 38, rồi 3 + 8 = 11; cộng theo nhóm thì 5 + 5 = 10 rút về 1, 1 + 9 + 9 + 9 = 28 rút về 1, rồi 1 + 1 = 2.

Thần số học có thật sự bắt nguồn từ Pythagoras không?

Không có bằng chứng như vậy. Genovese (2017), dẫn Underwood Dudley (1997), viết rằng người theo Pythagoras có gán tính chất huyền bí cho con số, chẳng hạn số lẻ là nam, số chẵn là nữ, nhưng không có bằng chứng họ dùng kỹ thuật bói theo ngày sinh của thần số học hiện đại. Nguồn gốc của thần số học hiện đại không rõ; Dudley cho rằng L. Dow Balliett có thể là người khởi xướng, dù có thể không phải người đầu tiên, và Balliett viết nhiều sách có ảnh hưởng vào đầu thế kỷ 20. Genovese còn ghi rằng trong hồi ký năm 1912, Cheiro nói thần số học có gốc Ấn Độ, nơi ông học nó khi còn trẻ.

Chính Balliett đặt hệ của mình dưới tên Pythagoras: cuốn How to Attain Success Through the Strength of Vibration mang phụ đề "hệ số theo lời dạy của Pythagoras", và chương I mở đầu bằng ý rằng từ giữa thế kỷ VI trước Công nguyên, khi Pythagoras trao cho người Hy Lạp hệ số của ông, thế hệ nào cũng bị lý thuyết ấy cuốn hút[2]. Cheiro cũng viết rằng một trong những lời dạy lớn nhất của Pythagoras là "giá trị huyền bí của các con số", và rằng về điều này Pythagoras "chắc chắn đúng"[1].

Hai lời viện dẫn ấy là cách hệ hiện đại tự gắn mình vào một tên tuổi cổ, không phải tư liệu về nguồn gốc.

Thần số học theo ngày sinh có dự đoán được gì không?

Phép kiểm trực tiếp không thấy điều đó. Jeremy Genovese (Đại học Cleveland State) tính số sinh của 806 người đoạt giải Nobel từ 1901 tới 2010 và đăng kết quả năm 2017 trên Journal of Articles in Support of the Null Hypothesis: phân bố số sinh không khác ngẫu nhiên một cách có ý nghĩa (χ2 = 4,92; df = 8; p = 0,77), và giữa sáu hạng mục giải cũng không khác (χ2 = 28,9; df = 40; p = 0,90). Ông kết luận kết quả "không ủng hộ" các khẳng định của thần số học.

Một phép kiểm trên người đoạt giải Nobel chỉ kiểm một khẳng định cụ thể, không kiểm từng lời mô tả tính cách. Nhưng các mô tả của Cheiro cũng không kèm phép đo nào, nên chúng thuộc loại quan niệm của hệ, không phải tri thức đã được kiểm chứng.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi đọc số 1 và số 2

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi một cuốn sách hay một trang nói "số 1 là Mặt Trời", hãy hỏi nó theo hệ nào và tính số theo ngày trong tháng hay theo cả ngày tháng năm, vì hai cách cho hai kết quả khác nhau cho cùng một người. Đừng dùng con số này để chọn nghề, chọn người hay quyết chuyện tiền bạc. Muốn hiểu hệ thì đọc nguyên văn Cheiro; muốn biết nó đứng vững tới đâu thì đọc phép kiểm của Genovese.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Số 1 trong thần số học có luôn ứng với Mặt Trời không?

Trong hệ của Cheiro (1926) và các sách đi theo hệ này, số 1 ứng Mặt Trời và ghép đôi với số 4 là Thiên Vương Tinh. Đó là quy ước của hệ, không phải quy luật tự nhiên; chính Cheiro viết rằng ông không giải thích vì sao mỗi số được gán như vậy.

Vì sao số 2 lại ứng với Mặt Trăng?

Theo Cheiro, số 2 "mang thuộc tính nữ tính của Mặt Trời": số 1 là nguyên lý dương, sáng tạo, số 2 là phía âm đi cùng nó, nên được gán cho Mặt Trăng. Cheiro còn ghép Mặt Trăng với số 7 là Hải Vương Tinh. Lý lẽ này là biểu tượng, không có cơ sở thiên văn.

Thần số học có được khoa học chứng minh không?

Không. Jeremy Genovese tính số sinh của 806 người đoạt giải Nobel từ 1901 tới 2010 và công bố năm 2017 trên Journal of Articles in Support of the Null Hypothesis: phân bố số sinh không khác ngẫu nhiên một cách có ý nghĩa (p = 0,77). Tác giả kết luận kết quả không ủng hộ các khẳng định của thần số học.

Bài này thuộc chủ đề Thần số học. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Thần số học.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnCheiro (1926). Cheiro's Book of Numbers. London: Herbert Jenkins, tr. 21-22 (Seal of Solomon), 33 (số của hành tinh và ngày trong tuần), 35 (chương II), 37-38 (chương III, số 1), 40 (chương IV, số 2), 116 (chương XXI, Pythagoras)The number 1 stands in this symbolism for the Sun.
  2. ↑L. Dow Balliett (1917). How to Attain Success Through the Strength of Vibration: A System of Numbers as Taught by Pythagoras. Atlantic City, N.J.: L. N. Fowler & Co., chương I, The Principles of VibrationEver since the middle of the VI Century, B. C., When Pythagoras gave to the ancient Greeks his system of numbers, each succeeding generation has been attracted, more or less, to his theory

Đọc thêm

#ThầnSốHọc#NhậtNguyệt#Số1MặtTrời#Số2MặtTrăng#Cheiro#LDowBalliett#SốSinh#ThầnSốHọcPhươngTây