
TL;DR: Không có con số cố định cho mọi nhà. Các sách gia lễ chỉ định số đời được thờ và thứ tự bài vị, còn số bàn thờ, số bát hương tùy không gian và hoàn cảnh từng gia đình. Nhà một bàn thờ thờ chung tổ tiên, ông bà, cha mẹ vẫn đúng lễ, miễn mỗi bát hương là một chỗ thờ rõ ràng, không chồng chéo. Điều cần giữ là thứ tự trên dưới và sự phân định giữa các bàn, không phải đếm cho đủ số.
Trong nhà nên có mấy bàn thờ và mấy bát hương?
Không có con số cố định cho mọi nhà. Sách gia lễ truyền lại chỉ định số đời được thờ và thứ tự bài vị trên bàn thờ, còn số bàn thờ và số bát hương thì tùy không gian ở và hoàn cảnh từng gia đình. Nhà chỉ có một bàn thờ thờ chung tổ tiên, ông bà, cha mẹ vẫn được coi là đủ lễ, miễn mỗi bát hương là một chỗ thờ rõ ràng, không chồng chéo lên nhau. Cái cần giữ là thứ tự trên dưới và sự phân định giữa các bàn, không phải đếm cho đủ số.
Sách gia lễ cũ quy định những gì về bàn thờ?
Gia lễ giản yếu do Dương Bá Trạc biên soạn, ấn hành năm 1932, thu gọn nghi thức gia lễ thành một cuốn, nội dung gồm lễ tang, để trở, lễ giỗ, lễ tết, cách làm lễ, văn tế và văn khấn, cùng khoản thức biên gia phả[1]. Sách này cũng có phần gia phả, trong đó cách tính đời lấy bản thân mình làm mốc thứ nhất, rồi đến cha mẹ là đời thứ hai, ông bà là đời thứ ba, cụ ông cụ bà là đời thứ tư, kỵ ông kỵ bà là đời thứ năm, và tiếp tục như vậy[1]. Đây là cách đếm đời để ghi phả, không phải cách đếm bàn thờ.
Về số đời được thờ, tư liệu của Gustave Dumoutier trong Le rituel funéraire des Annamites, khảo sát ở Hà Nội năm 1904, ghi nhận một tập quán phổ biến: người ta chỉ giữ bài vị của bốn đời tổ tiên tính từ cha trở lên, gồm cha mẹ, ông bà, cụ ông cụ bà, kỵ ông kỵ bà[2]. Đến ngày tế, bài vị được đưa ra khỏi tủ hay tráp cất giữ, tháo bao, xếp thẳng hàng trên bàn thờ theo thứ tự từ bên trái: kỵ ông, kỵ bà, cụ ông, cụ bà, ông, bà, cha, mẹ[2]. Tư liệu ấy cũng liệt kê đồ thờ cần có: một án để bài vị, một bàn để đồ cúng, một sập thấp trải chiếu cho người chủ lễ, lư hương, bình đựng hương kèm thìa nhỏ, đèn nến, bức trướng cầu nguyện, bình rượu tế, khay và chén, thìa và đũa, chậu đồng kê trên giá gỗ, khăn và lò[2]. Tư liệu nhấn mạnh những đồ ấy không được dùng vào việc khác[2].
Ghi chép dân tộc học của Gustave Dumoutier về tang lễ và thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Bắc Kỳ có niên đại rõ, in năm 1904. Nhưng nó cho thấy trục phân định của bàn thờ truyền thống nằm ở số đời và thứ tự trên dưới, chứ không ở số lượng bàn.
Một bàn thờ hay nhiều bàn thờ mới đúng?
Cách bày biện phổ biến trong nhà cổ truyền là một bàn thờ chính đặt ở gian giữa. Bài của Hồng Nhuệ trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2003, khảo sát một vùng nam Trung Bộ, mô tả nhà cổ truyền thường là nhà thấp, ba gian, gian chính giữa dành riêng cho việc thờ tự, hai gian bên là chỗ tiếp khách và ngủ. Ngoài bàn thờ tổ tiên chính yếu ở gian giữa, tác giả còn ghi nhận hai bên vách thường có thêm một bàn thờ rất nhỏ, và giữa sân có một bàn thờ nhỏ tượng trưng dựng trên cột cao, với đèn nến hương hoa. Như vậy ngay trong một ngôi nhà, số bàn thờ đã có thể là ba, với chức năng khác nhau chứ không phải ba chỗ thờ tổ tiên ngang hàng.
Khi nhà có thêm bàn thờ Phật, bàn thờ Thổ Công, bàn thờ ông bà ngoại hay bàn thờ người mất sớm, thì đó là các bàn khác đối tượng, không phải sự chia nhỏ bàn thờ tổ tiên. Một số sách phong thủy bày biện hiện đại đưa ra quy tắc riêng cho việc đặt tượng thần, tượng Phật và hướng bàn thờ, ví dụ cho rằng bàn thờ nên hướng ra cửa chính. Cần đọc đây là quy ước của một trường phái, không phải lễ chế bắt buộc: sách ấy thuộc loại sách phong thủy diễn giải, mức chứng cứ D, tức là cách hiểu của một dòng sách chứ không phải kết luận đã được kiểm chứng.
Mấy bát hương thì gọi là hợp lễ?
Trong tư liệu mô tả, mỗi bàn thờ có một lư hương chính, và số bát hương gắn với số chỗ thờ chứ không gắn với số người được thờ[2]. Một bát hương có thể thờ chung nhiều đời nếu bài vị được xếp chung trên một án. Ngược lại, nhà có bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Thổ Công, bàn thờ Phật thì mỗi bàn có lư hương riêng, vì mỗi bàn là một hệ thờ khác nhau.
Điều đáng lưu ý là ở các miếu, đền lớn, sự phân định bàn thờ rất rõ. Miếu Bà Chúa Xứ nằm trong quần thể khu di tích lịch sử - văn hóa Núi Sam thuộc thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Lớp trong, chính giữa là tượng Bà; phía bên phải tượng Bà, nhìn từ ngoài vào, có một linga đá cao hơn một mét kê trên hương án, dân chúng quen gọi là Bàn thờ Cậu; phía bên trái là tượng gỗ chạm hình yoni, gọi là Bàn thờ Cô. Lớp ngoài dành cho bàn thờ Hội đồng, hai bên có bàn thờ Tiền hiền khai khẩn ở bên trái và Hậu hiền khai cơ ở bên phải[3]. Mỗi bàn có chức năng riêng, không bàn nào thay bàn nào. Đây là mô hình tham chiếu cho thấy nguyên tắc phân định theo vai vế và chức năng, chứ không theo số lượng cho đẹp.
Bảng đối chiếu các trường hợp bày bàn thờ
| Trường hợp | Số bàn thờ | Số bát hương | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Nhà nhỏ, chỉ thờ tổ tiên | 1 bàn chính | 1 lư hương chung | Xếp bài vị các đời chung một án |
| Nhà có tổ tiên và Thổ Công | 2 bàn riêng | 2 lư hương | Mỗi bàn một hệ thờ, không gộp |
| Nhà có tổ tiên, Phật, Thổ Công | 3 bàn riêng | 3 lư hương | Bàn Phật thường đặt cao nhất |
| Nhà thờ họ, từ đường | 1 án lớn | 1 lư hương chính, có thể thêm lư hương phụ | Thờ nhiều đời, có người chủ lễ |
| Nhà có người mất sớm, chưa nhập tổ | 1 bàn riêng | 1 lư hương | Thờ riêng đến khi nhập tổ theo tục địa phương |
Bảng này tổng hợp từ các mô tả trong tư liệu dân tộc học và bài nghiên cứu đã dẫn, dùng để đối chiếu chứ không phải quy định bắt buộc. Mỗi địa phương có thể có tục riêng về thời điểm nhập tổ và cách đặt bàn thờ người mất sớm.
Vì sao dân gian kiêng đặt nhiều bát hương trên cùng một bàn?
Quan niệm dân gian cho rằng mỗi bát hương là một chỗ ngự, đặt nhiều bát hương sát nhau trên cùng một bàn dễ làm chỗ thờ chồng chéo, khó phân định trên dưới, khi cúng dễ lẫn lời khấn. Đây là cách nói của quan niệm, không phải điều lễ chế nào quy định. Xét theo logic của sự phân định, lo ngại này có cơ sở ở chỗ: nếu nhiều bát hương cùng nằm trên một bàn mà không có thứ tự rõ, thì việc dâng hương, khấn vái sẽ không biết hướng về đâu trước.
Đối chiếu với tư liệu của Dumoutier, bàn thờ xưa đặt bài vị theo một thứ tự cố định từ trái sang phải, từ đời cao xuống đời thấp[2]. Trật tự ấy chính là cái bảo đảm cho việc cúng lễ có hướng. Khi nhà có nhiều bàn khác đối tượng, mỗi bàn lại có vị trí riêng theo vai vế: bàn Phật cao hơn, bàn tổ tiên ở gian giữa, bàn Thổ Công thường ở gần cửa hay góc nhà. Sự phân tầng này giữ cho mỗi chỗ thờ có một chủ thể rõ ràng.
Nhà chật thì xoay xở thế nào?
Nhà chật vẫn có thể giữ đủ lễ bằng cách gộp bàn mà không gộp chủ thể. Cách làm phổ biến là dùng một bàn thờ chính có nhiều tầng: tầng cao nhất đặt tượng Phật nếu có thờ Phật, tầng giữa đặt bài vị tổ tiên, tầng thấp hoặc bàn phụ nhỏ đặt lư hương Thổ Công. Mỗi tầng vẫn có lư hương riêng, mỗi lư hương vẫn ứng với một chủ thể. Cách này giữ được nguyên tắc phân định mà không cần nhiều bàn tách rời.
Cần tránh hai thái cực. Một là gộp tất cả vào một bát hương duy nhất rồi khấn chung cho mọi chủ thể, vì như vậy lời khấn mất tính phân định. Hai là kê nhiều bàn nhỏ chen chúc trong cùng một góc, làm cho bàn thờ chính mất vị trí trang trọng. Tư liệu về nhà cổ truyền cho thấy gian giữa được dành riêng cho việc thờ tự, không dùng vào việc khác, tức là vị trí trang trọng của bàn thờ chính là điều được coi trọng hơn số lượng bàn.
Các phái không thống nhất ở điểm nào?
Có ít nhất ba chỗ các nguồn không nói giống nhau. Thứ nhất là số đời được thờ: tập quán Dumoutier ghi nhận là bốn đời tính từ cha[2], trong khi lễ chế Nho giáo cổ nói tới các bậc cao hơn và có quy định riêng theo phẩm tước. Sách Lễ Ký, thiên Khúc lễ hạ, chép: thiên tử tế trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ngũ tự; chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; quan đại phu tế ngũ tự; kẻ sĩ tế tổ tiên[4]. Sách ấy cũng dẫn câu trong Lễ Ký: "Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" (muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở tổ), và nhận xét rằng ngoài việc thờ Trời, việc thờ tổ tiên là trọng hơn cả, Trời chỉ thiên tử mới được tế còn tổ tiên thì từ vua quan đến nhân dân ai cũng phải thờ[4]. Số đời thờ trong lễ chế cổ không đồng nhất với tập quán bốn đời ghi nhận ở Bắc Kỳ.
Thứ hai là hướng và vị trí bàn thờ. Một dòng sách phong thủy cho rằng bàn thờ phải hướng ra cửa chính. Trong khi đó cách bày truyền thống trong nhà ba gian đặt bàn thờ ở gian giữa, hướng ra sân và cửa, nhưng vị trí quan trọng hơn là gian giữa chứ không phải một hướng cố định.
Thứ ba là việc thờ chung hay thờ riêng người mới mất. Tục địa phương khác nhau về thời hạn thờ riêng trước khi nhập tổ, và các nguồn dân tộc học cũng ghi nhận sự khác biệt giữa các dân tộc. Các nguồn dân tộc học ghi nhận sự khác biệt giữa các dân tộc về tục thờ cúng tổ tiên[5]. Đây là ghi chép của một người Pháp thời thuộc địa về một nhóm dân tộc cụ thể ở một địa bàn cụ thể, không thể suy ra cho người Việt nói chung.
Số bàn thờ và bát hương có ảnh hưởng đến vận mệnh không?
Các nguồn nghiên cứu về thờ cúng tổ tiên đều xem đây là một tín ngưỡng gắn với đạo lý và quan hệ gia đình, dòng họ, làng xã, chứ không đặt vấn đề số bàn thờ ảnh hưởng đến vận mệnh. Bài của Le Van Loi trên Revista Turismo Estudos e Práticas năm 2021 tổng thuật rằng các tác giả nghiên cứu hệ tín ngưỡng người Việt nói chung và thờ cúng tổ tiên nói riêng đều nhấn vai trò của tín ngưỡng này trong việc củng cố quan hệ cá nhân, gia đình, dòng họ, làng xã và quốc gia, đồng thời góp phần hình thành các tôn giáo nội sinh và bản địa hóa các tôn giáo ngoại lai.
Một hướng nghiên cứu khác cho thấy thờ cúng tổ tiên không chỉ có ở người không theo tôn giáo ngoại lai. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số ra năm 2013 đăng bài của Bích Hằng và Phạm Thị Hồng Thi, bàn về việc thờ cúng tổ tiên hiện diện trong đời sống người Công giáo ở Đồng Nai[6]. Vào năm đó, cũng trên tạp chí ấy, Huệ Khải đã phân tích sự chuyển biến từ tín ngưỡng vật linh thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên[7].. Hai bài này chỉ có phần tóm tắt được ghi lại, nên ở đây chỉ nêu để thấy hướng nghiên cứu, không dẫn số liệu cụ thể.
Về mặt lịch pháp, các sách như Gia lễ giản yếu dùng để tra ngày giỗ, ngày tết và cách làm lễ, không đặt vấn đề số bàn thờ tác động đến vận hạn[1]. Nếu có ai nói số bát hương quyết định tài lộc hay sức khỏe, thì đó là cách nói của quan niệm, không có cơ sở trong các nguồn gia lễ và nghiên cứu tôn giáo.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Phần này là diễn giải của Nhật Nguyệt, dựa trên các nguyên tắc phân định vừa nêu, không phải lời của sách nào.
- Nhà chỉ có một bàn thờ: đặt một lư hương chính, bài vị các đời xếp theo thứ tự từ đời cao xuống đời thấp. Nếu muốn thờ thêm Thổ Công, dùng một bát hương nhỏ đặt ở tầng dưới hoặc bàn phụ, không đặt ngang hàng với bát hương tổ tiên.
- Nhà có cả Phật và tổ tiên: bàn Phật đặt cao hơn, bàn tổ tiên ở dưới. Mỗi bàn một lư hương. Khi dâng hương, dâng bàn Phật trước rồi mới tới bàn tổ tiên.
- Nhà chật: dùng bàn thờ nhiều tầng, mỗi tầng một lư hương, giữ được sự phân định mà không cần nhiều bàn tách rời.
- Không nên đặt nhiều bát hương sát nhau trên cùng một mặt bàn mà không có thứ tự trên dưới rõ ràng, vì khi cúng sẽ không biết hướng về đâu trước.
- Nếu trong nhà có người mới mất, thời gian thờ riêng trước khi nhập tổ nên theo tục của địa phương và dòng họ. Đây là việc của gia đình và họ tộc, không có quy tắc chung cho mọi nơi.
