Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Thờ cúng tổ tiên

Gia phả của dòng họ Việt ghi những gì và người xưa giữ gia phả ở đâu?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Gia phả của dòng họ Việt ghi những gì và người xưa giữ gia phả ở đâu?

TL;DR: Gia phả là cuốn sổ chép thế thứ các đời trong dòng họ, thường cất tại nhà thờ họ, trong long khám hoặc hộp riêng trên giường thờ. Khoản thức biên gia phả bằng quốc văn của Dương Bá Trạc (1932) ghi mỗi vị tổ tiên theo các mục: tên húy, tên tự, tên hiệu, ngày sinh, ngày mất, nơi táng, lúc sinh thời làm gì, có đức tính hay sự nghiệp gì, sinh mấy con trai mấy gái và con thuộc bà đích, bà kế hay bà thứ. Mỗi xuống một đời, cách xưng hô thế thứ thay đổi nên phải biên lại gia phả.

Gia phả là gì và người xưa cất ở đâu?

Gia phả là cuốn sổ chép thế thứ trước sau của các đời trong một dòng họ, ghi tên họ, chức tước, ngày tháng sinh tử của tổ tiên và người trong nhà. Theo Phan Kế Bính (1915) trong Việt Nam phong tục, nhà thờ nào cũng có cuốn sổ ấy, và sách này gọi đó là Gia-phả[1]. Toan Ánh (2001) trong Phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam cũng mô tả gia phả như một quyển sử ký của gia đình; tác giả cho biết sổ ấy được lưu tại nhà thờ, cất giữ trong long khám, có khi lại đặt trong một hộp riêng để trên giường thờ[2]. Trong Phong tục thờ cúng của người Việt, Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) cũng viết rằng sổ gia phả thường nằm trong khám, hoặc được để riêng một lớp trên bàn thờ[3].

Ba sách này đều là tư liệu mô tả tập quán của người Kinh, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, từ đầu đến cuối thế kỷ 20; không nên suy rộng ra cho mọi vùng miền hay mọi dân tộc.

Gia phả ghi những mục nào?

Câu trả lời cụ thể nhất nằm trong khoản thức biên gia phả bằng quốc văn do Dương Bá Trạc soạn, in trong Gia lễ giản yếu năm 1932[4]. Theo khoản thức này, mỗi vị tổ tiên được ghi:

  • Tên húy, tên tự, tên hiệu.
  • Ngày, tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm mất.
  • Nơi táng.
  • Nghề nghiệp lúc sinh thời, đức tính tốt đẹp và sự nghiệp lớn lao nếu có.
  • Số con trai, con gái đã sinh; từng người con thuộc bà đích, bà kế hay bà thứ, kèm tên của mỗi người.

Về các bà vợ, sách dặn khi trong nhà có đủ đích, kế, thứ thì phải biên hết cả; chỉ trừ một trường hợp: người biên thuộc dòng bà đích hoặc bà kế, mà bà thứ lại có con thờ phụng riêng một dòng, thì các bà thứ không phải biên. Nếu quên không nhớ được chỗ nào thì đành bỏ khuyết chỗ đó[4].

Phan Kế Bính (1915) cho biết thêm: nhà đại gia thì gia phả ghi chép cả công nghiệp sự trạng của tổ tông, mả táng tại đâu cũng ghi vào, tức như một quyển sử ký trong nhà[1]. Về phần Song Mai và Quỳnh Trang (2006), các tác giả cho biết gia phả đôi khi lưu cả tính tình và sở thích của người quá cố lúc còn sống; sách cũng ghi rõ ai là người sinh ra từng người, và những ai thuộc ngành trưởng, những ai thuộc ngành thứ[3].

Bảng: các mục ghi cho mỗi người theo khoản thức năm 1932

MụcNội dung ghi
TênTên húy, tên tự, tên hiệu
Ngày thángSinh ngày tháng năm nào; mất ngày tháng năm nào
Nơi tángTáng tại đâu
Thân thếLúc sinh thời làm nghề nghiệp gì, có đức tính gì hay, sự nghiệp gì lớn
Con cáiMấy con trai, mấy con gái; con trai tên gì, con gái tên gì; người nào do bà đích, bà kế hay bà thứ sinh

Bảng trên tóm các mục trong khoản thức của Dương Bá Trạc (1932)[4]. Với các bà vợ, sách ghi tách thành mục riêng: Hiển khảo (cha), Hiển tỉ (mẹ), Kế hiển tỉ (mẹ kế), Thứ hiển tỉ (mẹ là vợ lẽ), mỗi mục cũng theo các dòng tên húy, tự, hiệu, sinh, mất, táng tại, lúc sinh thời.

Vì sao mỗi đời phải biên lại gia phả?

Dương Bá Trạc (1932) giải thích rằng khi xuống thêm một đời, cách xưng hô thế thứ với các đời trước đều thay đổi, cho nên đời nào cũng phải biên lại gia phả[4]. Khoản thức tính theo lối lấy bản thân người chép làm mốc: mình là đời thứ nhất, rồi đến cha mẹ là đời thứ hai, ông bà là đời thứ ba, cụ ông cụ bà là đời thứ tư, kỵ ông kỵ bà là đời thứ năm, cứ thế ngược lên tới đời thứ sáu, thứ bảy, thứ tám. Vì vậy cùng một vị tổ tiên, ở đời con gọi bằng ông, đời cháu gọi bằng cụ, đời chắt gọi bằng kỵ; nếu không biên lại thì các mối quan hệ thế thứ trong sổ sẽ lệch theo thời gian.

Lời căn dặn của sách về việc biên chép cũng theo hướng ấy: người chép cứ dựa vào khoản thức đã liệt sẵn mà làm thành gia phả; nhớ tới đời nào thì ghi tới đời ấy, nhớ được khoản nào thì ghi khoản ấy, chỗ nào quên, không nhớ nổi thì để trống[4].

Chép gia phả bằng chữ quốc ngữ thế nào?

Dương Bá Trạc (1932) cho biết trước kia gia phả các nhà đều chép bằng chữ Tàu; khi quốc văn được coi trọng và chữ Tàu ít người học, tác giả e rằng vài ba chục năm sau không mấy người còn xem nổi gia phả cũ của nhà mình. Bởi vậy ông đã soạn một bản khoản thức để chép gia phả bằng quốc văn, không cầu kỳ văn hoa, chỉ chú trọng giản dị, sao cho người có học hay không có học đều có thể dựa vào đó mà chép gia phả nhà mình[4].

Cách làm cụ thể theo khoản thức: tính tự mình là một đời, rồi lần lượt lên các đời trước; mỗi vị ghi theo các mục đã nêu; chỗ nào không nhớ thì để trống. Sách còn để sẵn chỗ trống từ trang 19 trở đi để người có sách biên gia phả nhà mình vào[4]. Đây là điểm đáng chú ý: khoản thức không phải một bài văn mẫu để chép nguyên mà là một biểu mẫu có các dòng cần điền.

Về hình thức, Phan Kế Bính (1915) và Song Mai, Quỳnh Trang (2006) đều ghi gia phả thường dùng giấy sắc, viết tinh tả, rõ ràng, nắn nót để tỏ lòng thành kính với tổ tiên[1][3]. Những dòng họ to thường cho sao hoặc in gia phả thành nhiều bản, chia cho mỗi chi họ một bản để con cháu biết sự tích tổ tiên[1][3].

Ai giữ gia phả và giữ ở đâu trong nhà thờ họ?

Theo Toan Ánh (2001), sổ gia phả được lưu giữ tại nhà thờ: tác giả nói tới việc cất trong long khám, hoặc đặt vào một hộp riêng trên giường thờ[2]. Ở Phong tục thờ cúng của người Việt, Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng cho biết gia phả thường nằm trong khám, có khi được để thành một lớp riêng ngay trên bàn thờ[3]. Còn Phan Kế Bính (1915) chỉ nói gia phả để tại nhà thờ và nhà đại gia thì in ra phát cho mỗi chi một bản[1].

Về người giữ, các sách không thống nhất và cũng không nói rõ ai là người trực tiếp cất giữ. Có thể thấy một điểm chung: gia phả thuộc về nhà thờ họ, không phải vật riêng của một nhà.

Liên quan đến việc thờ tự trong dòng họ và nhà thờ họ ở một địa phương cụ thể, bài Tục thờ cúng ở Nghệ An: nhà thờ họ, đền làng Kim Lũy và đền Cuông đã trình bày riêng; bài này không lặp lại.

Gia phả khác gì với bia, sắc phong và các văn bản khác của họ?

Các sách chỉ nói gia phả là sổ chép thế thứ và sự tích tổ tiên, không đặt nó ngang hàng với bia đá hay sắc phong. Phan Kế Bính (1915) gọi gia phả là quyển sử ký trong nhà, nhấn mạnh chức năng ghi nhớ[1]. Toan Ánh (2001) cũng dùng cách gọi ấy[2]. Còn việc phân biệt các loại văn bản của dòng họ như gia phả, bia, sắc phong thì chưa đủ bằng chứng để khẳng định chi tiết.

Những điểm cần lưu ý khi đọc các sách này

Các sách kể trên là tư liệu mô tả tập quán, không phải nghiên cứu thực địa có phương pháp. Chúng chép trùng nhau nhiều đoạn, nên không nên coi là nhiều nguồn độc lập xác nhận lẫn nhau. Phạm vi mô tả là người Kinh, chủ yếu đồng bằng Bắc Bộ, đầu đến cuối thế kỷ 20; không suy ra cho Trung Bộ, Nam Bộ hay các dân tộc khác khi sách không nói. Và đây là tập quán được ghi lại, không phải bổn phận hay lời hứa lợi ích tâm linh cho người đọc hôm nay.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Gia phả dòng họ Việt ghi những mục nào cho mỗi người?

Theo khoản thức biên gia phả bằng quốc văn in trong Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932), mỗi vị được ghi: tên húy, tên tự, tên hiệu; ngày tháng năm sinh và mất; nơi táng; lúc sinh thời làm nghề gì, có đức tính hay sự nghiệp gì; sinh mấy con trai, mấy con gái, con nào do bà đích, bà kế hay bà thứ sinh. Chỗ nào không nhớ thì để trống, không đoán.

Gia phả thường được cất ở đâu trong nhà thờ họ?

Toan Ánh (2001) ghi gia phả để tại nhà thờ, cất trong long khám hoặc để trong một chiếc hộp riêng trên giường thờ. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng ghi gia phả thường đặt trong khám hoặc trong một lớp riêng trên bàn thờ. Đây là mô tả tập quán người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ, không phải quy định chung cho mọi dòng họ.

Vì sao mỗi đời lại phải biên lại gia phả?

Vì mỗi xuống một đời thì cách xưng hô thế thứ với các đời trước lại thay đổi. Dương Bá Trạc (1932) tính tự mình là một đời, cha mẹ là hai đời, ông bà là ba đời, cụ là bốn đời, kỵ là năm đời; cùng một vị tổ tiên nhưng đời con, đời cháu, đời chắt gọi bằng các bậc khác nhau, nên sổ phải biên lại để không lệch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, trang 4, mục Gia-phảNhà thờ nào cũng có cuốn sổ ghi chép thế thứ trước sau và họ tên chức tước ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong nhà, gọi là Gia-phả.
  2. ↑ abcToan Ánh. Phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam, trang 67Gia phả để tại nhà thờ, cất trong long khám, hoặc để vào một chiếc hộp riêng trên giường thờ.
  3. ↑ abcdeSong Mai (tuyển soạn) và Quỳnh Trang (tuyển soạn). Phong tục thờ cúng của người Việt, trang 21Bất cứ nhà thờ nào trước đây đều cất giữ cuốn sổ ghi chép thế thứ trước sau của tổ tiên, và các thế hệ nối tiếp từ đời này qua đời khác.
  4. ↑ abcdefgDương Bá Trạc (1932). Gia lễ giản yếu, Khoản thức biên gia phả, trang 1 và trang 3Mỗi xuống một đời thì thế thứ xưng-hô các đời về trước lại khác cả, nên mỗi đời lại phải biên lại gia-phả.
#GiaPhả#GiaPhảDòngHọ#ThờCúngTổTiên#NhàThờHọ#DươngBáTrạc#GiaLễGiảnYếu#PhongTụcViệtNam