Dân tộc Giẻ Triêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.
Tra cứu
Hồ sơ giúp anh chị
Gói của Nhật Nguyệt
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Nhiều dân tộc tổ chức Tết theo mùa vụ, tín ngưỡng hoặc lịch riêng. Ví dụ người Khmer đón Tết Chôl Chnăm Thmây giữa tháng 4 dương lịch, người Chăm Bàni có Ramưwan theo lịch Hồi giáo, người Si La ăn Tết sớm khi hoa đào nở. Đây là đặc điểm văn hóa riêng của từng cộng đồng.
Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.
Dân tộc Phù Lá gồm các nhóm Phù Lá Lão, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán, sống ở Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Tìm hiểu tiếng nói, thờ cúng, lễ tết.
Dân tộc Ba Na cư trú ở Gia Lai, Kon Tum và miền tây Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà; nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me và giữ nhiều lễ hội cộng đồng.
Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me, cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam, có hệ thờ cúng năm loại ma và tết cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch.
Khám phá vai trò trung tâm của nhà Rông trong đời sống tín ngưỡng, quản trị cộng đồng và sản xuất của các dân tộc Tây Nguyên như Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng.
Tổng quan các ngày lễ Tết Việt Nam trong năm: Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Tết của các dân tộc và các dịp cúng lễ khác.
Văn hoá Tây Nguyên gắn với không gian cồng chiêng, nhà rông và chế độ mẫu hệ. Bài phân tích nguồn gốc, cơ chế vận hành và biến đổi của các yếu tố này.
Phong tục các dân tộc thiểu số Việt Nam đa dạng ở cưới hỏi, dựng nhà, thờ cúng và ứng xử cộng đồng, gắn với môi trường sống và tín ngưỡng bản địa.
Lễ gọi hồn, gọi vía được làm khi ốm đau, ngã, sợ hãi hay đi xa về. Tìm hiểu ai làm, lễ vật, cách gọi và sự khác nhau giữa các dân tộc.
Khám phá phong tục xem chân gà ngày Tết và lễ cúng cơm mới của đồng bào dân tộc thiểu số, một nét đẹp văn hóa tâm linh gắn liền với ước vọng mùa màng bội thu.
Nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam đón năm mới theo lịch riêng, từ người Mông, Hà Nhì, Khmer, Chăm tới các tộc người Tây Nguyên, không trùng Tết Nguyên Đán.
Dân tộc Tày có 1.845.492 người theo điều tra 2019, cư trú ở thung lũng Đông Bắc, nói tiếng Tày - Thái, thờ tổ tiên và giữ các lễ hội lồng tồng đặc trưng.
Theo hồ sơ đề cử UNESCO 2019, Then là thực hành nghi lễ của người Tày, Nùng, Thái do thầy Then chủ trì, gồm lễ cầu an, cầu mùa, giải hạn, có hát và đàn tính.
Cồng có núm, chiêng không núm; cả hai làm bằng đồng thau và tạo nên không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh năm 2005.
Giải mã nguồn gốc chữ "Tết" từ "Tiết", ý nghĩa "Nguyên Đán", lịch sử hình thành Tết cổ truyền Việt Nam và những góc nhìn học thuật về nguồn gốc ngày Tết.
So sánh Tết Nguyên Đán của người Kinh, Chôl Chnăm Thmây của người Khmer và các dân tộc đón Tết theo lịch riêng: thời điểm, lễ vật, nghi thức và cách gọi tên.
Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Khám phá tín ngưỡng Then linh thiêng, cây đàn Tính và lễ hội xuống đồng Lồng Tồng của người Tày, dân tộc thiểu số đông dân nhất Việt Nam ở vùng Đông Bắc.
Dân tộc Cơ Ho cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, theo chế độ mẫu hệ, thờ thần Yang và ma Chà, có lễ ăn Tết đâm trâu sau mùa thu hoạch.
Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.
Dân tộc La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Bài viết tổng hợp tên gọi, dân số, nhà ở, hôn nhân và tập tục thờ cúng của người La Ha.
Phong tục cưới hỏi người Tày gồm dạm hỏi, ăn hỏi, sêu tết và lễ cưới, cùng tục ở rể độc đáo: cô dâu ở nhà mẹ đẻ đến khi mang thai mới về nhà chồng.
Mừng tuổi đầu năm của người Tày, Nùng ở Cao Bằng, Hà Giang và lì xì của người Hoa ở Chợ Lớn: ai mừng cho ai, mừng bằng gì, vào lúc nào trong mấy ngày Tết.
Lễ giỗ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá, Kiên Giang diễn ra 26 đến 28/8 âm lịch, tưởng nhớ anh hùng hy sinh năm 1868, thu hút hơn 1 triệu lượt người.
Tết cơm mới 10 tháng Mười âm lịch của người Tày ở Thái Nguyên gồm lễ cúng tại gia với cơm gạo mới, gà, lợn, bánh dày và lễ cộng đồng ở làng.
Việt Nam có 54 dân tộc theo Danh mục các thành phần dân tộc năm 1979. Danh mục chính thức, phân bố theo vùng và nét văn hoá chung.
Dân tộc Pu Péo có 903 người theo điều tra 2019, cư trú tại Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai. Tìm hiểu tập tục thờ cúng, cưới xin, ma chay và lễ tết.
Dân tộc Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, cư trú chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, có hai nhóm Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen cùng nhiều tập tục riêng.
Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.
Sách lá cổ của người Mày (dân tộc Chứt) ghi thần chú, bài cúng và tri thức dân gian, chỉ dùng trong nghi lễ quan trọng, đang đứng trước nguy cơ thất truyền.
Người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia, cư trú chủ yếu ở Đắk Lắk, nam Gia Lai, tây Phú Yên và Khánh Hòa, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần.
Dân tộc Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Sơn La và Lai Châu, có tục ở rể, thờ cúng tổ tiên hai đời và lễ cúng bản hằng năm.
Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Nùng.
Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.
Dân tộc Cơ Tu cư trú ở miền núi Quảng Nam và Thừa Thiên Huế, nói tiếng thuộc ngữ hệ Nam Á, có nhà Gươl, lễ đâm trâu và tục dồn mồ đặc sắc.
Mai Hoa Dịch Số lập quẻ Kinh Dịch từ ngoại cảnh, âm thanh, con số thay vì gieo tiền hay cỏ thi. Truyền thống quy sách cho Thiệu Ung.
Sao Thiếu Âm là sao thứ tư của vòng Thái Tuế, an theo chi năm sinh. Cách an, vị trí và ý nghĩa theo bốn sách Tử Vi Việt Nam.
Tây Tứ Trạch gồm bốn hướng nhà Càn, Khôn, Cấn, Đoài trong Bát Trạch phong thủy, được cho là hợp với người Tây Tứ Mệnh. Xem định nghĩa và cách phân biệt.
Số Sứ Mệnh (Expression Number) là gì? Cách tính từ tên khai sinh, ý nghĩa từ số 1 đến 9, và phân biệt với Số Đường Đời, Số Linh Hồn trong thần số học.
Thiệu Ung (1011-1077) lập tượng số học đời Tống, đặt chu kỳ nguyên hội vận thế trong Hoàng Cực Kinh Thế và mở đường cho Mai Hoa Dịch số về sau.
Số Linh Hồn (Soul Urge Number) trong thần số học là chỉ số tính từ nguyên âm trong họ tên, phản ánh khao khát và động lực sâu thẳm bên trong mỗi người.
Ca sĩ nhạc trẻ nổi tiếng cuối thập niên 1990 - đầu 2000