Vì sao cùng là Tết mà mỗi tộc người lại đón một lúc khác nhau?
Điểm chung dễ thấy là hầu hết các tộc người ở Việt Nam đều có một dịp lễ đánh dấu chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Điểm khác nhau nằm ở chỗ lịch pháp và nhịp mùa vụ của từng tộc người quy định thời điểm ấy rơi vào lúc nào. Tiến sỹ Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn nghệ dân gian Việt Nam, phân chia thành ba hình thức đón Tết: nhóm theo Tết Nguyên Đán, nhóm theo lịch riêng của tộc người, và nhóm ở Trường Sơn, Tây Nguyên không quan niệm một ngày Tết cố định mà đón Tết trong một khoảng thời gian dài. Cách phân chia này hữu ích để đối chiếu, nhưng cần lưu ý đây là cách phân loại của một nhà nghiên cứu, không phải một quy chuẩn bắt buộc cho mọi tộc người.
Ba vế được so sánh trong bài này không nằm cùng một cấp độ. Tết Nguyên Đán là một dịp lễ đã định hình gắn với người Kinh và nhiều dân tộc khác. Chôl Chnăm Thmây là Tết cổ truyền của riêng người Khmer. Còn "các dân tộc đón Tết theo lịch riêng" là một nhóm gồm nhiều dân tộc với nhiều cái Tết khác nhau, không phải một lễ hội duy nhất. Vì vậy khi đối chiếu, vế thứ ba sẽ được trình bày như một nhóm trường hợp có đặc điểm chung là không trùng thời điểm với Tết Nguyên Đán.
Tết Nguyên Đán của người Kinh
Tết Nguyên Đán là dịp lễ lớn nhất trong năm của người Kinh, tính theo âm dương lịch, thường rơi vào khoảng cuối tháng Chạp đến đầu tháng Giêng âm lịch. Nguồn VietnamPlus ghi nhận nhiều dân tộc thiểu số cũng đón Tết Nguyên Đán, chẳng hạn người Mường, Thổ, Chứt, Mảng, Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú ở vùng Tây Bắc, người Ơ Đu ở Nghệ An, các dân tộc Tày, Thái, Nùng, Sán Chay, Cao Lan, Sán Chỉ, Giáy, Lự, Bố Y, La Chí, La Ha, Cờ Lao, Pu Péo, Dao, Pà Thẻn, Hmông ở vùng Đông Bắc, cùng người Hoa, Ngái, Sán Dìu, Phù Lá, Hà Nhì ở Lào Cai. Những dân tộc này vẫn giữ phong tục cổ truyền riêng nhưng thống nhất thời gian đón Tết với Tết Nguyên Đán.
Đặc trưng của Tết Nguyên Đán nằm ở chuỗi nghi lễ gắn với gia đình và cộng đồng: cúng tổ tiên, cúng giao thừa, chúc Tết, mừng tuổi, cùng các phong tục như dựng cây nêu, gói bánh chưng, bánh tét tùy vùng. Nguồn tham khảo được cung cấp cho bài này không đi sâu vào chi tiết lễ vật và nghi thức cụ thể của Tết Nguyên Đán ở người Kinh, nên phần trình bày ở đây dừng ở mức khái quát về thời điểm và vị trí của dịp lễ trong năm.
Chôl Chnăm Thmây của người Khmer
Chôl Chnăm Thmây, còn viết là Chaul Chnam Thmay, là lễ hội mừng năm mới theo lịch cổ truyền của dân tộc Khmer. Từ "Chôl" nghĩa là "vào", "Chnăm Thmay" nghĩa là "năm mới". Theo nguồn Báo Nhân Dân, lễ hội thường diễn ra vào khoảng giữa tháng Tư dương lịch. Nguồn Báo Ảnh Dân tộc và Miền núi ghi cụ thể hơn: từ 13 đến 15 tháng 4 dương lịch, và 14 đến 16 tháng 4 vào năm nhuận. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của người Khmer, có nhiều nét tương đồng với Tết Bunpimay của Lào, Tết Songkran của Thái Lan và Tết Thingyan của Myanmar.
Nguồn gốc và cách giải thích của nguồn
Theo nguồn Báo Nhân Dân, nguồn gốc của Chôl Chnăm Thmây được lý giải bằng truyền thuyết liên quan đến câu chuyện chuyển giao tôn giáo từ Bà La Môn giáo sang Phật giáo, xoay quanh cuộc đấu trí giữa Đại Phạm Thiên và cậu bé Thom Ma Bal, một tiền kiếp của đức Phật. Sau khi thua cuộc, thần Kabul Maha Prum tự cắt đầu mình và căn dặn các con gái hằng năm thay phiên nhau xuống trần gian bảo vệ người dân, phù hộ cho một năm bình an và mùa màng bội thu. Người Khmer coi ngày đó là ngày đầu tiên của năm mới.
Cũng theo nguồn Báo Nhân Dân, cách giải thích thứ hai gắn với nhịp mùa vụ: tháng Tư là điểm giao thời giữa mùa nắng và mùa mưa, cỏ cây trở lại tươi tốt, thiên nhiên trỗi dậy sức sống. Người Khmer quan niệm sự thay đổi ấy là khởi đầu của một năm mới, và việc tổ chức Tết xuất phát từ mục đích cầu xin mùa khô qua mau để bắt đầu mùa vụ mới. Hai cách giải thích này cùng tồn tại trong nguồn, không loại trừ nhau.
Các ngày lễ chính
Nguồn Báo Nhân Dân cho biết ngày xưa Tết Chôl Chnăm Thmây kéo dài từ 10 đến 15 ngày, còn những thập niên gần đây chỉ còn 3 ngày, chưa kể công việc chuẩn bị trước đó. Ba ngày này được tính theo lịch của người Khmer, chịu ảnh hưởng của khoa thiên văn truyền thụ từ Ấn Độ, với hai lối tính: "Chôl" theo chuyển động của mặt trăng, "Chnăm" theo chuyển động của mặt trời.
Ngày thứ nhất là lễ rước Đại lịch (Maha Sangkran). Mọi người tắm gội, mặc quần áo đẹp, đội cỗ lên chùa. Đại lịch được đặt trong khay sơn son thếp vàng, đưa lên kiệu khiêng đi vòng quanh chính điện 3 vòng, sau đó đoàn rước tiến vào chánh điện, vị sư cả tiếp nhận quyển Đại lịch, đặt lên bệ thờ và tụng kinh. Nguồn Báo Nhân Dân ghi rõ lễ rước Đại lịch có ý nghĩa tương tự lễ đón giao thừa trong Tết Nguyên Đán của người Việt và nhiều dân tộc khác.
Ngày thứ hai là lễ dâng cơm và đắp núi cát. Người Khmer trong phum sóc mang cơm đến tận chùa dâng cho các vị sư sãi, nghe tụng niệm kinh Phật. Buổi chiều diễn ra lễ đắp núi cát, theo quan niệm mỗi hạt cát đắp lên thành núi sẽ giải thoát được một kẻ có tội ở thế gian. Nguồn Báo Nhân Dân ghi nhận ngày nay việc đắp núi cát chỉ được tổ chức trong những năm chùa đang xây dựng, một số chùa thay bằng đắp núi lúa, núi gạo.
Ngày thứ ba là ngày cuối Tết. Theo nguồn Báo Ảnh Dân tộc và Miền núi, sau khi dâng cơm cho các vị sư, đồng bào làm lễ tắm tượng Phật bằng nước ướp hương thơm, nhằm tỏ lòng biết ơn đức Phật, gột rửa những điều không may trong năm cũ và cầu mong vạn sự như ý trong năm mới.
Lễ vật trên bàn thờ
Theo nguồn Báo Nhân Dân, vào thời khắc giao thừa, người Khmer bày mâm lễ vật gồm năm ngọn nến, năm nén hương, năm chén cốm, một cặp dừa, hai ly nước, hoa tươi và 11 loại trái cây để nghênh đón các vị thần linh và ông bà tổ tiên. Điểm đáng chú ý là thời khắc giao thừa của người Khmer không phải 0 giờ 0 phút như Tết Dương lịch hay Tết Nguyên Đán, mà căn cứ vào thời khắc tiên nữ giáng trần, do vị A Cha trong chùa làm lễ và thông báo cho người dân.
Các dân tộc đón Tết theo lịch riêng
Đây là nhóm gồm nhiều dân tộc với những cái Tết khác nhau, điểm chung là thời điểm đón năm mới không trùng với Tết Nguyên Đán. Theo cách phân loại của Tiến sỹ Trần Hữu Sơn được dẫn trên VietnamPlus, nhóm này gồm người Mông ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ với Tết Nào Pồ Trầu, người Hà Nhì Hoa ở Lai Châu và Điện Biên với Tết Hồ Sự Chà, người Cống ở Điện Biên với Tết Ủy La Lóng, người La Hủ ở Lai Châu với Tết Khộ Xớ, người Si La ở Lai Châu và Điện Biên với Tết Ồ Xị Già, người Chăm với Tết Rija Nưgar, người Khmer Nam Bộ với Tết Bon Chôl Chnam Thmây.
Cần lưu ý rằng nguồn này xếp Chôl Chnăm Thmây của người Khmer vào nhóm đón Tết theo lịch riêng. Trong khi đó, bài này tách Chôl Chnăm Thmây thành một vế riêng để so sánh trực tiếp với Tết Nguyên Đán, theo yêu cầu của đề bài. Cách tách này là quy ước trình bày của bài, không phủ nhận cách phân loại của nguồn.
Trường hợp Tết Hồ Sự Chà của người Hà Nhì
Theo lời nghệ nhân Pờ Dần Xinh ở bản Tả Kố Khừ, xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, được dẫn trên VietnamPlus, người Hà Nhì đón Tết Hồ Sự Chà, cũng giống như người Việt đón Tết Nguyên Đán, nhưng tổ chức sớm hơn Tết Nguyên Đán của người miền xuôi. Thường là vào khoảng tháng 12 dương lịch, khi mùa màng đã xong xuôi, người Hà Nhì lựa chọn ngày Thìn, tức ngày con Rồng, đẹp nhất trong tháng để làm lễ mừng năm mới. Tết kéo dài trong 3 ngày.
Lễ đón năm mới bắt đầu từ sáng sớm. Những người phụ nữ trong bản làm bánh trôi dâng cúng thần linh, xin phép cho gia đình mổ lợn ăn Tết. Ngày Tết nhà nào cũng phải mổ lợn. Nếu người Việt cúng gà rồi dùng chân gà để xem vận hạn trong năm mới, thì đồng bào Hà Nhì mổ lợn và dùng bộ gan lợn để xem điều tốt xấu trong năm. Sau khi mổ lợn và xem lá gan, chủ nhà lấy ở mỗi bộ phận trên người con lợn một phần nhỏ, đem nấu cháo dâng cúng tổ tiên và thần linh, cầu mong mùa màng tốt tươi, trâu bò mạnh khỏe, gia đình gặp nhiều may mắn. Sau đó các thành viên trong gia đình ăn cơm mừng năm mới rồi đi chúc Tết anh em, bà con trong bản. Khi màn đêm buông xuống, trong tiếng chiêng trống, bà con trong bản cùng nắm tay nhau nhảy múa quanh đống lửa.
Trường hợp Tết cơm mới của người Khơ Mú
Cũng theo nguồn VietnamPlus, người Khơ Mú và một số tộc người làm nương rẫy thường đón Tết năm mới vào tháng 9 hoặc tháng 10 âm lịch. Tết đón mừng năm mới của đồng bào Khơ Mú chính là Tết cơm mới. Sau này, một số nơi ăn Tết Nguyên Đán, nhưng Tết cơm mới vẫn quan trọng nhất, có nhiều nghi lễ và đồ cúng mang tính biểu tượng của ngày Tết.
Nhóm Tây Nguyên và Trường Sơn
Nhóm thứ ba theo cách phân loại của Tiến sỹ Trần Hữu Sơn là các dân tộc ở Trường Sơn và Tây Nguyên như Gia Lai, Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Hrê, Mnông, Raglai, Xtiêng, Cơ Tu, Gié Triêng, Mạ, Co, Chơ Ro, Chu Ru, Brâu, Rơ Măm. Các tộc người này không quan niệm một ngày Tết cố định mà đón Tết trong một thời gian dài từ tháng Giêng đến tháng Ba hàng năm. Hầu hết tộc người bản địa nơi đây theo nông lịch. Qua mùa khô hanh, khi có hạt mưa kèm theo những tiếng sấm đầu tiên trong năm báo hiệu mùa mưa sắp đến, khoảng cuối tháng Hai đến đầu tháng Ba âm lịch, họ coi đó là thời điểm khởi đầu năm mới.
Mỗi tộc người tổ chức Tết đón năm mới theo cách riêng, được nguồn VietnamPlus liệt kê: người Xơ Đăng làm lễ sửa máng nước và tổ chức Tết giọt nước, người Mnông tổ chức Tết cầu an cho cả buôn làng, người Mạ tổ chức Tết cúng thần lúa, người Brâu tổ chức Tết cúng trỉa lúa, người Ê Đê tổ chức Tết Mnăm thun, người Hrê tổ chức Tết Htend. Nguồn cũng ghi nhận một nhóm như người Tà Ôi và người Bru Vân Kiều trước kia ăn Tết vào mùa khô như các tộc người ở Tây Nguyên, nhưng từ vài chục năm gần đây đã chuyển sang ăn hai Tết, cả Tết Nguyên Đán theo lịch chung và Tết cổ truyền của riêng họ.
Bảng so sánh các điểm khác biệt chính
| Tiêu chí | Tết Nguyên Đán của người Kinh | Chôl Chnăm Thmây của người Khmer | Các dân tộc đón Tết theo lịch riêng |
|---|---|---|---|
| Cách gọi tên | Tết Nguyên Đán | Chôl Chnăm Thmây, còn viết Chaul Chnam Thmay, Bon Chôl Chnam Thmây | Nhiều tên khác nhau: Hồ Sự Chà, Nào Pồ Trầu, Ủy La Lóng, Khộ Xớ, Ồ Xị Già, Rija Nưgar, Tết cơm mới, Mnăm thun, Htend, Tết giọt nước |
| Thời điểm | Cuối tháng Chạp đến đầu tháng Giêng âm lịch | Giữa tháng Tư dương lịch, thường 13 đến 15 tháng 4, năm nhuận 14 đến 16 tháng 4 | Khác nhau theo từng dân tộc: Hà Nhì khoảng tháng 12 dương lịch, Khơ Mú tháng 9 hoặc 10 âm lịch, nhóm Tây Nguyên từ tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch |
| Căn cứ xác định thời điểm | Âm dương lịch | Lịch cổ truyền Khmer, chịu ảnh hưởng thiên văn Ấn Độ, tính theo chuyển động mặt trăng và mặt trời | Nông lịch, mùa vụ, hoặc lịch riêng của từng tộc người |
| Lễ vật và nghi thức đặc trưng | Cúng tổ tiên, cúng giao thừa, chúc Tết, mừng tuổi (nguồn không đi sâu chi tiết) | Mâm lễ vật gồm 5 ngọn nến, 5 nén hương, 5 chén cốm, một cặp dừa, hai ly nước, hoa tươi, 11 loại trái cây; lễ rước Đại lịch, dâng cơm, đắp núi cát, tắm tượng Phật | Hà Nhì mổ lợn và xem gan lợn, nấu cháo dâng cúng; Khơ Mú làm Tết cơm mới; nhóm Tây Nguyên làm lễ gắn với nước, thần lúa, cầu an buôn làng |
| Không gian nghi lễ trung tâm | Gia đình, nhà cửa, đình chùa tùy vùng | Chùa Khmer, dưới sự điều hành của vị A Cha hoặc Achar | Gia đình, bản làng, khu rẫy, máng nước, tùy tộc người |
| Thời lượng | Nguồn không nêu cụ thể trong tài liệu tham khảo của bài | Xưa kéo dài 10 đến 15 ngày, nay còn 3 ngày, chưa kể chuẩn bị | Hà Nhì 3 ngày; nhóm Tây Nguyên đón trong khoảng thời gian dài từ tháng Giêng đến tháng Ba |
Những điểm cần lưu ý khi đọc bảng so sánh
Bảng trên đối chiếu các điểm khác biệt, không nhằm xếp hạng vế nào đầy đủ hơn hay đúng hơn. Một số ô còn để trống hoặc ghi "nguồn không nêu cụ thể" vì tài liệu tham khảo của bài chưa đề cập đủ. Cụ thể, thông tin về lễ vật và nghi thức chi tiết của Tết Nguyên Đán ở người Kinh chưa đầy đủ trong các nguồn đã thu thập, nên phần trình bày ở vế này dừng ở mức khái quát. Tương tự, thời lượng Tết Nguyên Đán không được nêu trong các nguồn tham khảo của bài.
Về nhóm dân tộc đón Tết theo lịch riêng, các nguồn cũng không thống nhất hoàn toàn trong cách phân loại. Nguồn VietnamPlus dẫn cách phân chia ba hình thức của Tiến sỹ Trần Hữu Sơn, trong đó Chôl Chnăm Thmây của người Khmer được xếp vào nhóm đón Tết theo lịch riêng. Cách trình bày của bài này tách Chôl Chnăm Thmây thành một vế riêng theo yêu cầu so sánh, đây là quy ước của bài, không phải sự phản bác cách phân loại của nguồn.
Một điểm nữa cần lưu ý là tên gọi các dân tộc trong bài được viết theo danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam. Các tên như Khơ Me, Chàm, Mèo đã quen dùng trong một số văn bản cũ, nhưng bài này dùng tên chính thức là Khmer, Chăm, Mông.
Có phải mọi tộc người đều chỉ đón một cái Tết trong năm?
Không. Nguồn VietnamPlus ghi nhận người Tà Ôi và người Bru Vân Kiều trước kia ăn Tết vào mùa khô như các tộc người ở Tây Nguyên, nhưng từ vài chục năm gần đây đã chuyển sang ăn hai Tết, cả Tết Nguyên Đán theo lịch chung và Tết cổ truyền của riêng họ. Tương tự, một số nơi của người Khơ Mú ăn Tết Nguyên Đán, nhưng Tết cơm mới vẫn quan trọng nhất. Điều này cho thấy việc đón Tết không cố định mà có thể thay đổi theo thời gian và theo điều kiện sinh hoạt của từng cộng đồng.
Vì sao không nên coi một cách đón Tết là chuẩn để đo các cách còn lại?
Mỗi cách đón Tết gắn với một hệ lịch pháp và một nhịp mùa vụ cụ thể. Tết Nguyên Đán gắn với âm dương lịch và chu kỳ nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng. Chôl Chnăm Thmây gắn với lịch cổ truyền Khmer và thời điểm chuyển từ mùa nắng sang mùa mưa ở Nam Bộ. Các cái Tết theo lịch riêng gắn với nông lịch của từng tộc người, có khi gắn với mùa màng đã thu hoạch xong, có khi gắn với tiếng sấm đầu mùa báo hiệu mùa làm rẫy. Vì vậy, khác biệt về thời điểm, lễ vật và nghi thức là khác biệt về cách thích ứng với môi trường và lịch pháp, không phải thang bậc đánh giá.
