Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Thờ cúng tổ tiên

Bà cô ông mãnh là ai, vì sao được thờ riêng dưới gầm bàn thờ tổ tiên?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Bà cô ông mãnh là ai, vì sao được thờ riêng dưới gầm bàn thờ tổ tiên?

TL;DR: Theo sách phong tục, bà cô ông mãnh là những người con, người cháu trong nhà mất khi còn trẻ, chưa dựng vợ gả chồng. Nhiều gia đình lập bàn thờ riêng cho các vị, thường đặt dưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên, vì quan niệm tuổi nhỏ thì không ngồi ngang hàng với các cụ. Đây là tục của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ được các sách phong tục ghi lại, không phải bổn phận bắt buộc.

Bà cô ông mãnh là ai trong họ?

Theo các sách phong tục, bà cô ông mãnh là những người con, người cháu trong gia đình mất khi còn trẻ, chưa lập gia đình. Cách gọi tách ra hai tiếng: bà cô chỉ người nữ, ông mãnh chỉ người nam, cùng chung một nhóm người được thờ.

Toan Ánh (2001) định nghĩa bà cô ông mãnh là con cái trong nhà chết trẻ, chưa lấy vợ lấy chồng, và theo tín ngưỡng thì các vong hồn ấy trở nên linh thiêng[1]. Song Mai và Quỳnh Trang tuyển soạn (2006) ghi tương tự: đó là con cháu trong gia đình chết yểu, chưa dựng vợ gả chồng, gặp giờ linh nên được cho là linh thiêng[2]. Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng xếp họ vào nhóm con cái trong nhà mất sớm, gặp giờ linh; theo tác giả, những vong hồn này hay hiện về báo mộng cho người sống[3].

Ba sách này đều là sách phong tục, thuật lại tập quán của người Kinh, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, ghi chép từ đầu tới cuối thế kỷ 20. Đây là tư liệu mô tả tập quán, không phải công trình nghiên cứu nhân khẩu hay tâm lý. Vì vậy, khi đọc cần hiểu đây là cách các tác giả ghi nhận quan niệm dân gian đương thời, không phải sự thật được kiểm chứng.

Vì sao bàn thờ bà cô ông mãnh đặt thấp dưới gầm hương án?

Lý do các sách đưa ra là tuổi nhỏ: các vị không được ngồi ngang hàng với các cụ trên cùng một bàn thờ. Toan Ánh (2001) cho biết bà cô ông mãnh vốn có chỗ trên bàn thờ tổ tiên, nhưng do tuổi nhỏ nên phải đặt thờ ở vị trí thấp hơn, không được ngang hàng với bàn thờ tổ tiên[1]. Cùng cách giải thích, Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ví điều này với tục trên đời sống: ngày giỗ Tết, trẻ con không được ngồi chung, ngang hàng với người lớn[2].

Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng ghi nhận rằng xét cho cùng các bà cô ông mãnh được thờ trên bàn thờ tổ tiên, nhưng vì tuổi nhỏ nên e không dám cùng các cụ về hưởng lễ chung một bàn thờ, do đó mới có bàn thờ riêng, thường đặt ở dưới gầm hương án[3].

Cần phân biệt hai tầng trong lời giải thích này. Tầng thứ nhất là dữ kiện: nhiều nhà có bàn thờ riêng đặt thấp. Tầng thứ hai là cách hiểu: sự thấp ấy phản ánh thứ bậc tuổi tác trong gia đình, như trẻ nhỏ không ngồi chung mâm với người lớn. Cách hiểu thứ hai là quan niệm dân gian, các sách ghi lại chứ không chứng minh.

Bàn thờ bà cô ông mãnh được lập như thế nào?

Theo Toan Ánh (2001), bàn thờ bà cô ông mãnh đơn sơ, giản dị: chỉ có một chiếc bệ trên đặt bài vị, nhiều khi không có cả bài vị. Phía trước bài vị đặt một bình hương nhỏ cùng vài ba chiếc đài dùng để bày ly rượu, đĩa trầu cau, tách nước khi cúng; một cây đèn nhỏ có thể có hoặc không, và nếu thiếu đèn thì lúc cúng người nhà thắp nến hay đặt một ngọn đèn vào[1].

Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ghi chi tiết hơn về trường hợp nhiều vị: những gia đình có nhiều bà cô ông mãnh thì thờ chung một bàn thờ với một bát hương, nhưng cũng có nhà thờ mỗi vị một bát hương riêng[2]. Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng tả bàn thờ đơn sơ với một chiếc bệ, bài vị, bát hương nhỏ, vài ba đài rượu, đĩa trầu cau, tách nước và một cái đèn nhỏ[3].

Điều sách ghiToan Ánh (2001)Song Mai và Quỳnh Trang (2006)Bùi Xuân Mỹ (2001)
Người được thờ là aiCon cái trong nhà chết trẻ, chưa lấy vợ lấy chồng, gặp giờ linh[1]Con cháu trong gia đình chết yểu, chưa dựng vợ gả chồng, gặp giờ linh[2]Con cái trong gia đình bị chết trẻ, gặp giờ linh[3]
Vị trí bàn thờDưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên, vì tuổi nhỏ không thể thờ ngang[1]Dưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên, ví như trẻ con không ngồi chung với người lớn[2]Dưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên[3]
Bài vịCó bệ đặt bài vị, nhiều khi không có bài vị[1]Có bệ đặt bài vị, thậm chí nhiều gia đình không có cả bài vị[2]Có bệ đặt bài vị[3]
Bát hươngMột bình hương nhỏ[1]Nhiều vị thờ chung một bát hương, cũng có nhà mỗi vị một bát hương riêng[2]Một bát hương nhỏ[3]
Đồ thờVài ba đài rượu, trầu cau, tách nước, đèn nhỏ hoặc nến[1]Vài ba đài rượu, trầu cau, tách nước, đèn nhỏ[2]Vài ba đài rượu, trầu cau, tách nước, đèn nhỏ[3]
Cách khấn(không chép)Gia trưởng lâm râm khấn, không lễ vì thuộc hàng cháu con[2](không chép)

Bảng trên cho thấy ba sách chép nhiều điểm trùng nhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn, chi tiết gia trưởng chỉ lâm râm khấn, không lễ, chỉ thấy trong Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[2]. Việc nhiều vị thờ chung một bát hương hay mỗi vị một bát hương riêng cũng chỉ Song Mai và Quỳnh Trang ghi rõ[2].

Khi nào người ta khấn bà cô ông mãnh?

Theo Song Mai và Quỳnh Trang (2006), lúc trong nhà có trẻ nhỏ khó ở, người ta hay cầu khẩn bà cô ông mãnh phù hộ để đứa trẻ ốm mau khỏi. Và khi cúng bà cô ông mãnh, gia trưởng chỉ lâm râm khấn chứ không lễ, bởi các vị thuộc hàng cháu con[2].

Đây là tục và quan niệm được sách ghi lại, không phải lời khuyên y khoa. Việc khấn chỉ là một phần trong đời sống tâm linh của gia đình; khi trẻ ốm, việc chăm sóc và điều trị vẫn cần được thực hiện theo hướng dẫn của người có chuyên môn.

Ngoài ra, các sách cũng ghi rằng bà cô ông mãnh được thờ chung trong dịp giỗ Tết cùng tổ tiên, nhưng do tuổi nhỏ nên có bàn thờ riêng. Toan Ánh (2001) cho biết trong ngày giỗ, sau khi khấn giỗ xong, người ta buông chiếc y môn (bức màn thờ) xuống để các cụ hưởng lễ[1]. Tuy nhiên, các sách không mô tả chi tiết nghi thức riêng cho bà cô ông mãnh trong ngày giỗ, nên chỗ này còn để ngỏ.

Quan niệm dân gian về sự báo mộng và tính linh thiêng

Theo quan niệm dân gian được các sách ghi lại, bà cô ông mãnh là những vong hồn có thể báo mộng cho người sống và trở nên linh thiêng. Toan Ánh (2001) giải thích rằng tính linh thiêng ấy thường gắn với việc vong hồn báo mộng cho người sống; sự đi về của các vong hồn từng được người nhà xác nhận qua vài sự trạng trong gia đình, chẳng hạn đom đóm xanh bay vào nhà hay hoa chín hương trong một buổi cúng lễ, mà theo tín ngưỡng thì tục cho đó là sự trở về hoặc sự hiện hồn của người khuất[1].

Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng cho biết bà cô ông mãnh thường hiện về báo mộng cho người sống, qua đó cho thấy sự đi về của các vong hồn này[3]. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) bổ sung: gia chủ nhận biết sự linh thiêng nhờ những giấc mộng do người đã khuất gửi đến, và những người trong gia đình xác nhận điều đó qua một vài hiện tượng kỳ lạ xảy ra sau khi người này chết[2].

Những điều trên là lời của quan niệm dân gian, không phải sự thật được kiểm chứng. Các hiện tượng như đom đóm bay vào nhà hay hương cháy thành hình có thể có cách giải thích tự nhiên; việc gán chúng cho sự hiện hồn là cách diễn giải của tín ngưỡng. Bài viết thuật lại để người đọc hiểu quan niệm, không khẳng định hay phủ định.

Chỗ các sách không thống nhất và giới hạn của tư liệu

Có một điểm các sách không nói rõ: tiêu chuẩn để được gọi là bà cô ông mãnh. Toan Ánh (2001) và Bùi Xuân Mỹ (2001) dùng cụm chết trẻ, chưa lấy vợ lấy chồng, gặp giờ linh[1][3]. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) dùng chết yểu, chưa dựng vợ gả chồng, gặp giờ linh[2]. Không sách nào định lượng tuổi nào thì gọi là trẻ hay yểu, cũng không giải thích thế nào là giờ linh. Đây là chỗ còn mơ hồ trong tư liệu.

Một điểm khác: việc thờ bà cô ông mãnh có bắt buộc không. Các sách mô tả đây là tục của nhiều gia đình, nhưng không nói gia đình nào cũng phải làm. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ghi nhiều gia đình không có cả bài vị[2], cho thấy mức độ đơn giản và tùy nghi. Bài viết không đưa ra lời khuyên nên hay không nên lập bàn thờ; đó là quyết định của mỗi gia đình, tùy điều kiện và truyền thống riêng.

Về phạm vi: ba sách trên chủ yếu ghi tập quán của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ. Không nên suy ra rằng tục này phổ biến ở Trung Bộ, Nam Bộ hay ở các dân tộc khác khi tư liệu không nói. Cũng không nên coi đây là mô tả chung cho toàn bộ người Việt trên cả nước.

Liên hệ với cách bài trí bàn thờ nói chung

Việc đặt bàn thờ bà cô ông mãnh dưới gầm hương án là một phần trong cách bài trí bàn thờ tổ tiên. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về số lượng bàn thờ và bát hương trong nhà, có thể xem bài Trong nhà nên có mấy bàn thờ và mấy bát hương là hợp lễ?. Bài đó trình bày các quan niệm khác nhau về việc lập bàn thờ, không lặp lại ở đây.

Ngoài ra, nếu bạn cần tra cứu văn khấn và nghi thức liên quan đến bà cô ông mãnh, trang Bà cô ông mãnh (văn khấn và nghi thức) có nội dung riêng. Bài viết này không chép văn khấn để tránh trùng lặp.

Đôi điều về cách hiểu tục thờ bà cô ông mãnh hôm nay

Các sách phong tục ghi lại tục thờ bà cô ông mãnh như một phần của đời sống thờ cúng tổ tiên. Ngày nay, tục này vẫn tồn tại ở nhiều gia đình, nhất là ở nông thôn Bắc Bộ, nhưng mức độ và hình thức có thể khác xưa. Có nhà vẫn giữ bàn thờ riêng dưới gầm hương án; có nhà chỉ thờ chung trên bàn thờ tổ tiên; có nhà không lập bàn thờ riêng. Sự khác biệt này là bình thường, không có bản chuẩn nào để đo.

Điều đáng lưu ý là tục này gắn với tình cảm gia đình: tưởng nhớ những người mất khi còn trẻ, chưa kịp lập gia đình, là cách để người sống không quên họ. Dù tin hay không tin vào sự báo mộng, việc thờ cúng vẫn là một nét văn hóa tâm linh cần được nhìn nhận với sự tôn trọng.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: bài viết này thuật lại tục và quan niệm như các sách phong tục ghi chép, không khẳng định tính linh nghiệm cũng không bác bỏ. Mỗi gia đình tùy điều kiện và truyền thống mà quyết định cách thờ cúng phù hợp, miễn giữ được lòng thành kính với người đã khuất.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Bà cô ông mãnh có phải là người trong họ không, hay là thần linh bên ngoài?

Theo Toan Ánh (2001) và Song Mai, Quỳnh Trang (2006), bà cô ông mãnh là con cái, con cháu trong gia đình mất khi còn trẻ, chưa lập gia đình, không phải thần linh bên ngoài. Họ thuộc hàng con cháu, nên khi cúng gia trưởng chỉ lâm râm khấn, không lễ.

Nếu nhà không có bàn thờ riêng cho bà cô ông mãnh thì có sao không?

Các sách phong tục không nói đây là bổn phận bắt buộc. Toan Ánh (2001) và Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi rằng bà cô ông mãnh vốn cũng được thờ trên bàn thờ tổ tiên; bàn thờ riêng chỉ là cách nhiều nhà chọn để phân biệt thứ bậc. Không có bàn thờ riêng không bị coi là sai.

Vì sao bàn thờ bà cô ông mãnh thường đặt dưới gầm hương án mà không đặt bên cạnh?

Lý do các sách đưa ra là tuổi nhỏ: các vị không được ngồi ngang hàng với các cụ. Toan Ánh (2001) viết vì tuổi nhỏ nên phải thờ ở dưới thấp; Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ví như trẻ con không được ngồi chung mâm với người lớn. Đây là quan niệm dân gian, không phải quy định bắt buộc.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijkToan Ánh. Phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam, trang 74Bà Cô, ông Mãnh là những con cái trong gia đình chết trẻ, chưa lấy vợ lấy chồng, gặp giờ linh, trở nên lính thiêng.
  2. ↑ abcdefghijklmnoSong Mai (tuyển soạn) và Quỳnh Trang (tuyển soạn). Phong tục thờ cúng của người Việt, trang 24-25Theo quan niệm của người Việt Nam, bà cô, ông mảnh là những con cháu trong gia đình chết yếu, chưa dựng vợ, gả chồng, gặp giờ linh trở nên linh thiêng.
  3. ↑ abcdefghijBùi Xuân Mỹ. Tục thờ cúng của người Việt, trang 135Bà Cô, ông Mãnh là những con cái trong gia đình bị chết trẻ, gặp giờ linh. thường báo mộng cho người sống về sự đi về của những vong hén này.
#BàCôÔngMãnh#ThờCúngTổTiên#BànThờBàCôÔngMãnh#PhongTụcThờCúng#TụcThờCúngNgườiViệt#BàCôÔngMãnhLàAi