
TL;DR: Thánh sư, Tiên sư hay Nghệ sư đều chỉ ông tổ một nghề, người truyền dạy nghề cho đời sau. Nhà làm nghề thường lập bàn thờ Thánh sư riêng, đặt trên hương án kê sát tường hậu gian bên, có bài vị ghi tên họ và nghề nghiệp của vị tổ. Lễ cúng quan trọng nhất là ngày kỵ nhật của Thánh sư; ngoài ra cúng vào sóc vọng, tuần tiết, giỗ tết cùng với gia tiên và Thổ công.
Thánh sư, Tiên sư, Nghệ sư có phải là một không?
Ba tên gọi này đều chỉ cùng một đối tượng: ông tổ một nghề. Theo Toan Ánh (2001), Thánh sư chính là ông Tổ một nghề, cũng được gọi là Tiên sư hay Nghệ sư, và chính người đời trước đã truyền dạy nghề ấy lại cho các thế hệ sau[1]. Cách định nghĩa trong sách do Song Mai và Quỳnh Trang tuyển soạn (2006) cũng không khác mấy: Thánh sư có các tên gọi khác là Tiên sư và Nghệ sư, dùng để chỉ ông Tổ của một nghề nào đó, tức người đã khai phá ra nghề rồi truyền lại cho các thế hệ sau[2]. Bùi Xuân Mỹ (2001) viết: "Thánh sư (Tiên sư hay Nghệ sư) tức là ông Tổ một nghề, người đã truyền dạy nghề đó cho đời sau"[3]; nghĩa là ba cách gọi cùng chỉ một vị tổ nghề đã truyền nghề lại cho hậu thế.
Ba sách đều dùng lẫn lộn ba tên gọi này, không phân biệt Thánh sư với Tiên sư hay Nghệ sư thành ba cấp bậc khác nhau. Vì vậy, trong bài này, ba tên được dùng thay thế cho nhau theo đúng cách các sách đã dùng.
Ai được thờ làm Thánh sư?
Thánh sư là những người có công khai phá hoặc truyền dạy một nghề. Theo mô tả của Song Mai và Quỳnh Trang (2006), làng quê Việt Nam có bao nhiêu nghề thì có bấy nhiêu vị Thánh sư; những vị này nhiều khi chỉ là người bình thường, nhưng dân chúng rất tôn thờ bởi chính họ đã tạo ra nghề và truyền dạy cho dân chúng[2].
Các sách không liệt kê đầy đủ danh sách Thánh sư của từng nghề. Bùi Xuân Mỹ (2001) dẫn một trường hợp: vào đời vua Lê Kính Tông, trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đã dạy dân nghề dệt the lụa[3]. Đây là trường hợp cá biệt được sách ghi lại, không phải danh mục đầy đủ. Những nghề khác không nêu tên cụ thể vị Thánh sư.
Nhà làm nghề có cần bàn thờ tổ nghề riêng không?
Theo ghi nhận của các sách phong tục: bên cạnh miếu thờ chung của phường, từng người hành nghề còn dựng bàn thờ Thánh sư ở nhà riêng. Toan Ánh (2001) viết: "Thánh sư đã được thờ tại miếu của phường nhưng người Việt Nam bao giờ cũng biết nhớ ơn những người có công với mình, nên ngoài bàn thờ Thánh sư ở miếu là bàn thờ chung cho Phường, mỗi phường viên đều thờ Thánh sư tại nhà riêng"[1]. Lời này cho thấy tuy miếu đã có nơi thờ chung, người trong nghề vẫn giữ tục lập bàn thờ riêng tại nhà. Sách của Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng ghi nhận điều tương tự: vì rất quý trọng Thánh sư, các gia đình phường viên vẫn lập bàn thờ Thánh sư tại gia đình mình bên cạnh việc thờ tại miếu chung của phường[2]. Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi tương tự[3].
Cần lưu ý: đây là ghi chép về tập quán của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ, chủ yếu từ đầu đến cuối thế kỷ 20. Các sách không nói bàn thờ Thánh sư có bắt buộc với mọi nhà làm nghề hay không, cũng không nói tập quán này phổ biến ở Trung Bộ, Nam Bộ hay các dân tộc khác. Không có thông tin về tỷ lệ nhà làm nghề có lập bàn thờ riêng, cũng không rõ ai có trách nhiệm lập bàn thờ khi trong nhà có nhiều người cùng làm nghề.
Bàn thờ Thánh sư đặt ở đâu?
Theo Toan Ánh (2001), bàn thờ Tổ tiên nằm ở giữa nhà; hai bên có bàn thờ Thổ Công và bàn thờ Thánh sư, trong đó bàn thờ Thánh sư cũng được dựng trên một hương án kê sát tường hậu của gian bên, và trên hương án ấy, ở vị trí trong cùng chính giữa, là bệ kê bài vị[1]. Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng ghi bàn thờ này được dựng trên một hương án kê sát tường hậu gian bên[3]. Riêng Song Mai và Quỳnh Trang (2006), theo cách chép của hai tác giả này, bàn thờ Thánh sư chỉ là một hương án kê sát vào tường hậu của gian nhà[2].
Cách nói "gian bên" trong Toan Ánh (2001) và Bùi Xuân Mỹ (2001) gợi rằng bàn thờ Thánh sư đặt ở gian bên cạnh bàn thờ Tổ tiên, không phải gian giữa. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) không ghi rõ "gian bên" mà chỉ nói "gian nhà". Chỗ này các sách không thống nhất hoàn toàn về cách ghi vị trí cụ thể.
Ngoài ra, Toan Ánh (2001) và Bùi Xuân Mỹ (2001) cùng ghi nhận một cách thờ khác: có gia đình lập hẳn ban riêng để thờ Thánh sư, và phía ngoài cửa ban treo chiếc mành nhật nguyệt có vẽ long phụng chầu hai bên[1][3]. Như vậy, ngoài cách đặt bàn thờ trên hương án, còn có cách lập ban riêng với mành che ngoài cửa.
Bài vị Thánh sư ghi gì?
Bài vị Thánh sư ghi tên họ và nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư. Theo chép của Toan Ánh (2001), chính giữa, chỗ trong cùng của hương án, có một chiếc bệ, trên bệ kê bài vị Thánh sư, nội dung gồm tên họ cùng nghề nghiệp mà vị Thánh sư đã sáng tạo ra[1]. Bùi Xuân Mỹ (2001) viết: "bài vị Thánh sư gồm tên họ, nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư"[3]; tức nội dung bài vị xoay quanh hai thông tin ấy. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cũng vậy[2].
Bài vị có thể được thay bằng bức chân dung hoặc pho tượng. Toan Ánh (2001) cho biết: đôi khi bức chân dung của vị Thánh sư được dùng thay cho bài vị, và bức chân dung ấy do các phường thuê vẽ sẵn rồi bán cho phường viên; cũng có nhà thờ hẳn một pho tượng Thánh sư, không dùng bài vị hay chân dung nữa[1]. Ở khía cạnh này, Song Mai và Quỳnh Trang (2006) cho biết bài vị có khi được thay thế bằng tranh vẽ chân dung hoặc tượng của Thánh sư; ngoài ra, phường còn đứng ra thuê họa sĩ vẽ rồi phát bức chân dung ấy cho các phường viên[2].
Bàn thờ Thánh sư gồm những gì?
Toan Ánh (2001) mô tả khá tỉ mỉ. Sát ngay trước bài vị là một chiếc bàn nhỏ, trên bàn kê đài rượu có nắp đậy, giống như bên bàn thờ Táo quân. Tiếp đến, phía trước bàn nhỏ là bình hương hoặc một đỉnh trầm, hai bên bày đèn nến, ống hương, mâm bồng. Bàn thờ Thánh sư phần nhiều cũng giản dị như bàn thờ Thổ Công. Vật không thể thiếu là bài vị, hoặc bức chân dung, hoặc pho tượng của vị Thánh sư. Phía ngoài cùng của bàn thờ Thánh sư, theo Toan Ánh (2001), cũng có một chiếc y môn[1].
Cách bài trí mà Bùi Xuân Mỹ (2001) chép lại cũng tương tự: sát trước bài vị đặt một chiếc bàn nhỏ, trên kê đài rượu có nắp đậy; phía trước bàn ấy là bát hương hoặc đỉnh trầm, hai bên có đèn nến, ống hương, mâm bồng; và ngoài cùng cũng có một chiếc y môn[3]. Theo Song Mai và Quỳnh Trang (2006), mô tả ngắn gọn hơn: một chiếc bàn nhỏ kê đài rượu có nắp đậy, tương tự bàn thờ Táo quân, được đặt trước bài vị; phía trước bàn thờ nhỏ này là bình hương hoặc một đỉnh trầm, cùng với đèn nến, ống hương, mâm bồng ở hai bên[2].
| Thứ trên bàn thờ | Toan Ánh (2001) | Bùi Xuân Mỹ (2001) | Song Mai và Quỳnh Trang (2006) |
|---|---|---|---|
| Bài vị | Có, ghi tên họ và nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư | Có, ghi tên họ và nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư | Có, ghi tên họ và nghề nghiệp sáng tạo của Thánh sư |
| Chân dung hoặc tượng | Có thể thay bài vị; phường thuê vẽ sẵn, bán cho phường viên | Có thể thay bài vị | Có thể thay bài vị; phường thuê họa sĩ vẽ và phát cho phường viên |
| Bàn nhỏ kê đài rượu | Có, đài rượu có nắp đậy, giống bàn thờ Táo quân | Có, đài rượu có nắp đậy | Có, đài rượu có nắp đậy, giống bàn thờ Táo quân |
| Bình hương hoặc đỉnh trầm | Có | Có | Có |
| Đèn nến, ống hương, mâm bồng | Có | Có | Có |
| Y môn | Có, ngoài cùng | Có, ngoài cùng | Có, ngoài cùng ("treo y môn phủ kín") |
| Mành nhật nguyệt | Có, ở ban riêng, vẽ long phụng chầu hai bên | Có, ở ban riêng, vẽ long phụng chầu hai bên | Không nhắc |
Cúng Thánh sư vào ngày nào?
Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), trong các ngày sóc vọng, tuần tiết, giỗ tết, bên cạnh việc cúng gia tiên và Thổ công, gia chủ còn cúng Thánh sư bằng đồ lễ tương tự như đồ lễ cúng Thổ công; tuy nhiên, ngày kỵ nhật của Thánh sư chính là lễ cúng Thánh sư quan trọng nhất trong năm[3].
Toan Ánh (2001) ghi cùng các dịp ấy, và cho biết ngày nay các phường có cúng giỗ, nhưng tại tư gia người ta vẫn cúng riêng để tỏ lòng nhớ ngày qua đời của ông Tổ nghề mình[1]. Toan Ánh (2001) và Song Mai và Quỳnh Trang (2006) còn mô tả lễ giỗ Phường ở miếu: đến ngày vía của Thánh sư gọi là giỗ Phường, người ta cúng vị Thánh sư tại miếu này và mọi người trong Phường cùng tới lễ[1][2]. Như vậy, ngày kỵ nhật của Thánh sư vừa là dịp cúng tại gia, vừa là dịp lễ chung của phường nghề.
Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), về văn khấn Thánh sư: văn khấn này giống văn khấn Thổ công, điểm khác duy nhất là cung thỉnh Thổ công được đổi thành cung thỉnh Thánh sư, tùy theo bài vị của từng nghề, mỗi nghề có một vị Thánh sư[3]. Lời ghi của Toan Ánh (2001) về văn khấn Thần Tài cũng theo hướng ấy: văn khấn Thần Tài giống văn khấn Thổ Công, khác nhau chỉ ở chỗ cung thỉnh[1]. Cách hiểu này cho thấy cấu trúc văn khấn Thánh sư không khác biệt về hình thức so với văn khấn Thổ công, chỉ khác phần danh hiệu được mời.
Lễ tổ nghề ở đình, đền của cả làng nghề khác gì bàn thờ Thánh sư tại gia?
Bàn thờ Thánh sư tại gia là nơi thờ riêng của từng gia đình làm nghề. Còn miếu thờ Thánh sư của phường là nơi thờ chung. Theo mô tả của Toan Ánh (2001), người cùng một nghề hoặc cùng buôn một thú họp lại với nhau thành Phường; mỗi phường dựng miếu thờ Thánh sư riêng; tới ngày vía Thánh sư, tức giỗ Phường, cả phường cùng đến miếu làm lễ cúng vị Thánh sư; kinh phí cúng giỗ đương nhiên do các phường viên góp chung; phường lớn thường có tài sản riêng, có ruộng vườn, hoa lợi thu được dành cho việc thờ tự Thánh sư; có khi giỗ Phường được tổ chức rất lớn, kèm những trò vui như một ngày hội: đánh cờ, leo đu, múa rối, hát chèo[1].
Theo chép của Song Mai và Quỳnh Trang (2006), tiền cúng giỗ do các phường viên đóng góp; phường nào to thì có tài sản riêng, ruộng vườn, và hoa lợi từ đó được dùng vào việc thờ cúng Thánh sư; dịp cúng lễ giỗ phường còn có nhiều trò vui được tổ chức[2]. Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi tương tự[3].
Như vậy, có thể phân biệt hai tầng thờ: tầng gia đình (bàn thờ riêng, cúng vào kỵ nhật và các dịp sóc vọng, tuần tiết) và tầng phường nghề (miếu chung, lễ giỗ Phường có đóng góp, có tổ chức hội). Bài này chỉ trình bày tầng gia đình; tầng phường nghề và làng nghề được trình bày ở bài Nghề thủ công truyền thống Việt Nam gồm những nghề nào?.
Quan niệm dân gian về việc thờ Thánh sư
Người ta tin rằng Thánh sư là bậc có công khai sinh ra nghề, nên thờ phụng để tỏ lòng nhớ ơn và cầu mong được phù hộ trong công việc làm ăn. Bùi Xuân Mỹ (2001) cho biết: mỗi khi gặp việc trắc trở, những người hành nghề đều làm lễ kêu khẩn Thánh sư, mong được phù hộ để gặp sự may mắn[3]. Đây là lời thuật lại niềm tin của người trong nghề, không phải lời khẳng định của bài về hiệu quả của lễ cúng.
Cũng theo quan niệm dân gian, việc thờ Thánh sư tại gia bên cạnh bàn thờ Tổ tiên và Thổ công thể hiện sự gắn bó giữa nghề nghiệp và đời sống tâm linh của gia đình. Toan Ánh (2001) có lời nhận xét rằng người Việt Nam bao giờ cũng biết nhớ ơn những người có công với mình[1]. Nhận xét này được sách đưa ra như một lời bình, không phải kết quả nghiên cứu.
Những điểm tài liệu không nói rõ
Các sách không thống nhất về vị trí chính xác của bàn thờ Thánh sư: Toan Ánh (2001) và Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi "tường hậu gian bên", Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ghi "tường hậu của gian nhà". Cũng không có sách nào nói rõ kích thước bàn thờ, hướng đặt bàn thờ, hay cách bài trí cụ thể khi nhà có cả bàn thờ Tổ tiên, Thổ công và Thánh sư trong cùng một gian.
Về ngày cúng, Bùi Xuân Mỹ (2001) nêu ngày kỵ nhật của Thánh sư là lễ quan trọng nhất[3], nhưng không nói cách xác định ngày kỵ nhật khi không rõ ngày mất của vị Thánh sư. Các sách cũng không nói ai trong gia đình đứng ra cúng Thánh sư, và có kiêng kỵ gì đặc biệt ngoài những kiêng kỵ chung của việc thờ cúng hay không.
Về phạm vi: các sách mô tả tập quán của người Kinh, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, từ đầu đến cuối thế kỷ 20. Không có cơ sở để suy rộng ra cho Trung Bộ, Nam Bộ, các dân tộc khác, hay cho thực hành ngày nay khi các sách không nói.
